Truyện Winter's Edge

Chương 7

Tác giả Anne Stuart
Sáu giờ ba mươi sáng hôm sau, Molly nhoài qua thành giường và nôn đầy ra tấm thảm trắng muốt mịn như tơ, đoạn cô lăn người nằm ngửa với sự thỏa mãn đáng kinh ngạc. Ít ra bây giờ bắt buộc phải làm điều gì đó với căn phòng rồi, cô nghĩ, rồi lại thấy buồn nôn. Cô quá yếu và chóng mặt để cố lết được dù là vào phòng tắm, và cô nằm vật ra dựa cái đầu ong ong của mình vào đống gối ngồn ngộn tô điểm cho chiếc giường.

Không cách nào làm ngơ được tình trạng quen thuộc này nữa. Cô ăn liên tục, ngủ quá nhiều, và nôn mửa mỗi sáng. Đặt chuyện đó bên cạnh tình trạng mất trí nhớ và đời tư một người đàn bà hư hỏng, và chỉ có một cách giải thích hợp lý.

Cô có mang.

Ý nghĩ ấy làm cô vừa khiếp hãi vừa mê mẩn. Cô nhìn xuống cái bụng phẳng của mình và hình dung nó căng tròn lên với một đứa bé. Cô lướt một bàn tay thăm dò qua nó và thấy mình có thể mỉm cười. Đó là một hình ảnh tuyệt vời, chỉ thiếu duy nhất người cha để hoàn thành bức tranh.

Cho rằng Patrick là cha đứa bé hoàn toàn hợp lý. Xét cho cùng anh ta là chồng cô, dẫu là một người chồng không mấy nồng nhiệt.

Một đứa trẻ có thể hàn gắn những đổ vỡ giữa họ. Nhưng cô không muốn một đứa bé để cứu chữa hôn nhân, cô muốn có con với Patrick vì cô…ờ, cô chỉ muốn có con với Patrick.

Nhưng nếu đứa trẻ là con người khác? Người đàn ông đã chạy trốn cùng cô? Hay bất kỳ ai trong mấy chục người tình cô được cho là dan díu?

Cô vẫn muốn có đứa bé đó. Và không điều gì và không một ai cướp được nó khỏi cô.

Cô cũng sẽ không sống trong tình trạng giam cầm này thêm nữa, khi giờ cô đã đối mặt với khả năng xấu nhất. Cô muốn những câu trả lời, cô muốn bằng chứng. Cô muốn đi sắm quần áo sơ sinh.

Cô trèo xuống giường, thật chậm và cẩn thận, nhưng mọi dấu vết ốm nghén hình như đã bay mất ngoại trừ một chút yếu ớt ở hai đầu gối. Cô đi tới cửa sổ mở toang cánh cửa, để không khí lạnh trong lành tẩy sạch căn phòng.

Lần đầu tiên mặt trời tỏa sáng, chứng tỏ rằng Pennsylvania không phải lúc nào cũng mưa hoặc nặng trĩu mây đen. Không khí thoảng hơi hướng nhẹ nhất của mùa xuân, một gợi nhắc mơ hồ về sự ấm áp và sinh sôi, nhưng cũng đủ tạo cho Molly một cảm giác lạc quan đầu tiên. Cô tắm và mặc quần áo trong thời gian kỉ lục, dọn dẹp bãi nôn cạnh giường, và chuẩn bị đối phó với cú đòn số mệnh đã giáng cho cô.

“Bác sĩ của tôi là ai?” cô hỏi lúc đi vào bếp. Bà Morse đã pha sẵn cho cô một tách cà phê, đang đưa nó cho cô thì dừng lại, rõ ràng bị giật mình.

“Có chuyện gì thế? Cô bị di chứng sau tai nạn à? Chúng ta có thể liên lạc với bệnh viện ở New Jersey…”

“Không, tôi chỉ cần một bác sĩ thông thường. Người tôi vẫn đến khám ấy.” Cô rón rén nhấp thử hớp cà phê, tự hỏi nó có chịu nằm yên trong cái dạ dày lộn tùng phèo của mình.

“Cô có muốn cho tôi biết lí do không?”

Molly nhìn bà. Bà Morse là đồng minh duy nhất trong ngôi nhà đầy những người xa lạ cấm cảu này, vì lí do nào đó cô nói ra điều gì cũng là miễn cưỡng. Có lẽ cô sợ nói to điều đó sẽ làm nó biến mất. Có lẽ cô sợ không kém rằng nói to điều đó sẽ khiến nó hữu hình hơn.

“Tôi chỉ nghĩ cần kiểm tra sức khỏe,” cô đáp qua loa. “Không có gì phải lo lắng cả, bà Morse. Tôi nghĩ phải làm gì đó về việc tránh thai.” Khá gần với sự thật, theo cách nào đó, cô tự nhủ.

“Tôi sẽ gọi điện cho bác sĩ Turner giúp cô,” bà đề nghị.

“Tôi tự làm được mà. Chỉ cần cho tôi số của bà ấy tôi sẽ gọi sau khi đi dạo về. Tôi cần ra khỏi đây một lúc để hít thở không khí trong lành.”

Bà Morse dừng lại, gương mặt có vẻ thảng thốt. “Có điều này,” bà nói.

“Gì cơ?”

“Cô biết bác sĩ Turner là phụ nữ.”

Bao giờ nó cũng làm cô mất bình tĩnh, những chớp lóe của nhận thức chợt đến không báo trước này. “Có lẽ trí nhớ của tôi đang quay lại,” cô nói một cách khinh suất.

“Có lẽ thế,” giọng bà Morse lo lắng. “Để tôi làm cho cô ít thịt muối xông khói và trứng trước khi cô ra ngoài…”

“Không, cảm ơn bà!” Molly vội từ chối, không cảm thấy khỏe lại như đã tưởng. Nghĩ đến thức ăn không thôi đã đủ khiến dạ dày cô thắt lại, cô đặt tách cà phê gần như chưa được đụng tới xuống. “Để sau tôi ăn.”

Cô lao ra ngoài bầu trời tháng tư trong nắng sớm, ra sức hít vào không khí trong lành ẩm ướt, và chợt nảy ra một khao khát điên rồ và quả quyết là muốn chạy. Cô khởi đầu bằng một cú nhảy tạo đà thoải mái, cơ thể chuyển động theo guồng chân một cách thanh thoát. Cô chạy qua những ngôi nhà trong trang trại, qua đàn vịt giật mình nhốn nháo, qua ông Ben, mái tóc dài xõa tung sau lưng, tim đập dồn với một niềm vui vô tư lự.

Cô những muốn chạy mãi không ngừng, nhưng theo bản năng cô biết mình đã không giữ bình tĩnh. Một lát sau cô miễn cưỡng giảm tốc độ, tim nện mạnh vào lồng ngực, hơi thở rát hai buồng phổi. Cơ thể cô không phản ứng nhanh được như xưa – cô biết thế mà không rõ tại sao. Cô đã trở nên ẻo lả, sức chịu đựng đã vỡ tan. Có lẽ vì có một mầm sống đang lớn lên trong bụng cô. Cô chỉ biết hy vọng thế.

Những tán cây trên cao đã đâm chồi, trong sắc xám mùa đông đã có một màu xanh lướt qua, và xung quanh cô dậy lên mùi đất ẩm ướt của mùa xuân. Cô hít sâu nó như một liều thuốc mạnh, tự hỏi liệu có ai có thể cảm thấy tuyệt vọng vào một ngày tuyệt vời như ngày hôm nay, với những cụm mây trắng xốp đủ hình dạng đang trôi trên nền trời xanh ngắt, và làn gió xuân nhẹ nhàng mơn man gương mặt cô. Khi tiếp tục đi xuôi con đường mòn hẹp lầy lội với tốc độ vừa phải hơn trong cô ngập tràn một niềm hy vọng mới, một quyết tâm mới mà không gì có thể làm lung lay.

Đi chưa được một phần tư dặm thì một tiếng động đột ngột từ bụi cây thấp mọc ven con đường lầy lội làm cô giật mình dừng bước. Sau gáy cô có cảm giác như kiến bò kỳ quái. Có người đang theo dõi cô. Người nào đó, hoặc thứ gì đó, muốn làm hại cô.

Cô gần như cười phá lên thành tiếng khi nhận ra vóc dáng ì ạch của Beastie lao bổ xuống đường, sự chào mừng từ sau lưng của nó làm cô được một phen thót tim. Cô hồ hởi ôm lấy nó, nhận những cái liếm khắp mặt đáp lại, rồi thách nó chạy đua tới đống gạch vỡ cách đó mấy quãng đường.

Tất nhiên nó thắng cô, và đang đứng đợi với bộ dạng vênh váo khinh khỉnh đặc trưng khi cuối cùng cô cũng đuổi kịp nó, thở hổn hển. Sau đó cô nhận ra mình đang ở đâu.

Đó là những gì còn lại của chuồng ngựa trong đám tro tàn mà cô được cho là đã thiêu rụi. Thậm chí trải qua năm tuần lễ mà mùi củi than bị ướt vẫn thoang thoảng trong không khí. Một bức tường còn đứng vững một phần, và cô có thể hình dung những lưỡi lửa kêu lốp bốp quanh công trình xây dựng cổ xưa này, thậm chí nghe được tiếng kêu của lũ ngựa tội nghiệp đang đau đớn, ngửi thấy mùi thịt khét kinh tởm. Cô ngồi phịch xuống đất, choáng váng, chóng mặt, và gục đầu giữa hai đầu gối.

“Em ổn chứ?” Cô nghe thấy một giọng nói êm tai ngay gần, cô ngẩng lên, chớp chớp mắt trước ánh nắng chói, và thấy Toby đang nhìn cô chăm chú qua gọng kính cận, đôi mắt tối lại và căng thẳng, giọng anh tràn ngập một nỗi lo lắng dịu dàng lẽ ra phải làm cô thấy ấm áp. Cô tự nhủ là đúng như thế, tuy nhiên cô lại nghĩ đến Patrick.

Cô gật đầu, lấy lại tự chủ với một nỗ lực bài bản và nở nụ cười với anh. “Em chỉ hơi choáng một lúc. Em đã quên là mình phải tĩnh tâm một thời gian.” Cô nhìn đống đổ nát đầy tính tố cáo ấy bằng ánh mắt muốn bệnh. “Đây…đây hẳn là khu chuồng ngựa bị cháy.”

Anh tiến lại gần, ánh nắng phản chiếu qua cặp kính và khiến nét mặt anh không dò đọc được. “Em không nhớ gì hết sao? Bất cứ điều gì?”

“Một điều cũng không,” cô nói, tựa cằm lên đầu gối, cố giữ giọng không nhuốm vẻ tội lỗi và khổ sở. Toby có lẽ không để ý, nhưng Beastie đồng cảm với cô hơn, nó khẽ rên ư ử, dụi cái mõm to tướng vào mặt cô.

Toby gieo mình xuống cạnh cô, nằm dài trên đám cỏ xuân ẩm ướt. “Anh chưa từng nghe nói có chuyện như vậy xảy ra. Mất trí nhớ hoàn toàn. Thường người ta chỉ mất những mạch, những đoạn quá khứ.”

“Làm sao mà anh biết?” Cô giữ giọng mình không kích động. “Anh là bác sĩ à?”

“Không. Anh từng có ý định ấy, cho đến khi bệnh tật buộc anh phải bỏ ngang. Nhưng vốn kiến thức vẫn đủ để biết đây là viễn cảnh khó xảy ra.”

“Mặc kệ chứng mất trí nhớ có diễn ra theo cách này hay không, ứng với trường hợp của em,” cô nói chắc nịch. “Em cho rằng tất cả ký ức rồi sẽ dần quay lại, nhưng em sẽ không phí thời gian lo lắng chuyện đó. Anh cũng đừng lo làm gì.” Cô cười trấn an. Không hiểu sao Toby làm khơi dậy những bản năng người mẹ trong cô, thật kì cục, vì hình như anh ta lớn hơn cô mấy tuổi, có lẽ còn hơn thế. Nếu anh ta cùng lứa với Patrick. Nhưng ngoài những cảm xúc mẫu tử mạnh mẽ ra, một phần u ám và hoài nghi trong cô không tin lắm vào vẻ quyến rũ chân thật của anh ta - ở người này có cái gì đó không ổn. Có cái gì đó trong ánh mắt nồng nàn của anh ta, trong giọng nói ẩn hiện sự sắc sảo của anh ta.

Trí tưởng tượng của cô hẳn đã phát huy quá độ, cô phẫn nộ nghĩ. Cô không có đủ ký ức để lấp đầy não bộ, nên cô dựng lên đủ chuyện để khiến mình bận rộn. Toby Pentick vô hại. Dễ mến, thân thiện, và tử tế hơn nhiều cái người sắp trở thành chồng cũ của cô. Vậy hà cớ gì cô cứ tìm kiếm rắc rối ở nơi nó không tồn tại?

“Em có chắc mình thật sự không nhớ gì?” Toby hỏi nhỏ với vẻ căng thẳng có phần không tự nhiên, cô nhìn anh ngạc nhiên.

“Không gì cả,” cô đáp trơn tru. “Còn anh?”

Mặt anh ta bỗng tái đi, và cô nhận ra mình vừa gợi lại một nỗi đau. ”Em hỏi thế là sao?”

”Em định hỏi anh có nhớ được gì về đêm hôm đó? Anh có ở đây không? Có trông thấy gì không?”

Anh ta lắc đầu. ”Lúc đó anh sang West Coast thăm bạn. Anh không biết chuyện gì xảy ra cho đến khi quay về.”

Sự đau buồn hoặc lo lắng trong giọng anh ta là không thể lầm lẫn. Ký ức của cô có thể không còn, nhưng trực giác vẫn mạnh mẽ. Toby quan tâm đến cô. Có lẽ còn rất nhiều.

Ý nghĩ liền sau đó thật đột ngột, quen thuộc, và đầy sức tàn phá. Đây là một người đàn ông khác, một người bạn thân. Có thể anh ta mới là cha đứa trẻ trong bụng cô, chứ không phải chồng cô. ”Toby?” cô hỏi bằng giọng gấp rút. ”Chúng ta có phải là tình nhân không?”

Anh ta đỏ mặt. Khiến cô kinh ngạc, sắc đỏ sậm ửng lên trên mặt khi anh ta nhìn cô chằm chằm. ”Không,” anh ta khó nhọc nói. ”Pat là bạn anh. Anh sẽ không làm điều đó với cậu ấy.”

Trước khi cô có cơ hội hỏi sâu thêm, anh ta đã đứng dậy. ”Tốt hơn anh nên quay về.” Giọng anh ta gượng gạo. ”Anh đã hứa với Pat xem qua một con ngựa cái. Gặp em sau.”

”Vâng,” cô nhẹ nhàng đáp, thấy tội nghiệp vẻ xấu hổ không che giấu được của anh ta. Cô ắt sẽ không nghĩ một người đàn ông trưởng thành lại nhạy cảm đến như vậy. ”Em nghĩ em sẽ ở lại đây một lúc. Anh dắt Beastie về cùng được không? Nó hơi quá hiếu động để làm một bạn chơi – em không nghĩ mình xoay sở được với nó.”

”Được.” Anh ta thả lỏng một chút. ”Ờ....đừng ở ngoài này một mình quá lâu, ok?”

Cô bắt gặp dấu vết lo lắng rất mờ nhạt trong giọng anh ta, và cô nhìn anh ta sắc bén. ”Sao vậy?”

Anh ta lắc đầu. ”Anh chỉ có cảm giác quanh đây không an toàn lắm.”

Molly rướn thẳng người, cố làm ngơ cái linh tính ớn lạnh cô cảm thấy trong giọng anh ta. ”Cho em hay tất cả mọi người?”

”Cho em,” anh ta nói, cất tiếng gọi Beastie và bắt đầu đi xuôi con đường.

Cô nhỏm người quỳ lên hai đầu gối, định gọi với theo, yêu cầu một lời giải thích, hiềm một nỗi anh ta đi nhanh như chạy đến nỗi cô không cách nào đuổi kịp, và năng lượng của cô đã dốc hết lúc sáng sớm rồi. Và cô không dám chắc Toby sẽ trả lời những câu hỏi của cô bất kể cô có khăng khăng nài ép.

Molly ngồi phịch xuống lớp cỏ nâu ẩm ướt và nhắm nghiền mắt, cố chặn đứng câu cảnh báo và tìm lại cảm giác thanh bình và hy vọng mới đây thôi vẫn còn. Nhưng lời của Toby đã phát huy tác dụng, cô ngồi thẳng dậy và phấp phỏng nhìn quanh, ước gì mình đã không cho Beastie đi. Xung quanh đống đổ nát của tàu ngựa cũ đầy những hàng cây lá kim cao vút đen sẫm, đầy những lùm cây tối tăm có thể che giấu bao sinh vật nguy hiểm. Những sinh vật ấy có nguy hiểm như Patrick? Cô đứng lên và tiến lại gần tàu ngựa, bị lớp móng nhà đen thui và những thanh gỗ cháy sém thu hút, nhìn chằm chằm xuống chúng. Cô có một cảm giác kì quái rằng có những con mắt đang theo dõi cô, và cô quay phắt lại, nhìn trừng trừng vào rừng cây bao quanh.

Lẽ dĩ nhiên là không có ai. Cô cảm thấy mình như con ngốc lúc quay lại và vươn người qua thành chuồng, cố ngó vào bên trong gian hầm xây bằng đá. Cô nghĩ mình trông thấy cái gì đó sáng màu bên dưới, thứ gì đó bằng kim loại lấp lánh. Nhích vào sát hơn, thình lình cô thấy mình lao thẳng xuống cái hố sâu bị lửa thiêu đen ngòm.

Hẳn cô đã va vào một trong những cây dầm đổ, vì cảm thấy mạng sườn đau nhói, và có cái gì đó cào vào tay cô trong lúc cô rơi vùn vụt xuống gian hầm tối âm u. Cô chạm đất sau cú rơi tưởng chừng vô tận, nằm sõng soài trên bùn, toàn thân đau nhức do va phải đủ các chướng ngại vật trên đường đi, cảm thấy có một đôi bàn từ phía sau đã đẩy mạnh mình. Không cần nhúc nhích cô cũng có thể trông thấy cánh tay mình có một vết rạch dài và mảnh đang ứa máu. Máu nhanh chóng đọng thành vũng bên dưới cô.

Ý nghĩ đầu tiên của cô là về đứa bé có thể hoặc không tồn tại. Cô đau toàn thân, nhưng không có gì đáng ngại. Vết cắt trên cánh tay đến giờ này có lẽ là vết thương nặng nhất, và cô ngắm nghía nó với vẻ mê mẩn bệnh hoạn.

Mình sẽ chảy máu đến chết, cô đờ đẫn nghĩ. Dù mình có thai hay không cũng thế - mình sẽ chết và trong nhiều năm nữa sẽ chẳng ai tìm thấy mình, và trong thời gian ấy Patrick sẽ có toàn bộ tiền của mình để cung phụng ả đàn bà kia.

Cô nhắm nghiền mắt, cho bản thân mấy giây ngắn ngủi chìm vào đau khổ và hoảng loạn. Sau đó cô lại mở bừng mắt ra. Nếu cô biến mất thì cuộc đời sẽ ngon nghẻ quá. Cô sẽ không cho bọn họ thỏa lòng lần nữa đâu

Cô lăn người nằm ngửa, rên rỉ. Bốn bức tường căn hầm đang rỉ bùn vào tiết xuân, nắng lọt qua những thanh dầm trên đầu cô và vết rạch trên cánh tay không còn quá đau đớn. Cô vẫn cảm thấy buồn nôn và yếu lả, nhưng ở đâu đó trong đáy sâu tâm trí cho cô biết rằng máu thường có tác động như vậy tới cô. Đặc biệt là máu của chính cô.

Rồi cô lại nghe thấy một âm thanh, một tiếng rên ư ử. ”Beastie,” cô yếu ớt gọi, nhưng tiếng cô gần như không nghe rõ. ”Beastie,” cô thử lại lần nữa, nhưng vô dụng.

Có tiếng gỗ vỡ rất lớn, và một thanh dầm cũ lao ầm xuống, rơi cách đầu cô vài phân. ”Cô đang làm cái quái gì dưới đó hả?” Là giọng hỏi gay gắt của Patrick. Molly chưa từng nghe thấy điều gì đáng mừng một cách khó chịu đến thế trong đời.

”Ngủ một giấc,” cô bật lại. ”Anh nghĩ thế nào?”

Nhưng anh ta lại đi đâu mất, và suýt chút nữa cô gọi với theo. Anh ta không thể nào bỏ cô lại đây chứ? Thế nhưng, cô thực sự biết gì về anh ta nào? Nhỡ đâu anh ta muốn kết thúc cái mà anh ta đã bắt đầu.

Rồi cô nghe thấy tiếng loảng xoảng ở đâu đó mãi đầu bên kia khu chuồng trại, và cô nhẹ nhõm nhắm mắt lại. Anh ta đã không bỏ cô. Nếu anh ta là người đã đẩy cô thì khó có chuyện anh ta lại đến cứu cô. Trong chốc lát anh ta đã ở bên cô, đôi mắt tối sầm vì sợ hãi và giận dữ đem lại một niềm an ủi kỳ cục. ”Cô không sao chứ?” anh ta hỏi một cách thừa thãi, chọc vào cánh tay cô.

”Tôi...tôi nghĩ là không sao,” cô yếu ớt lắp bắp. ”Tay tôi bị thương, nhưng tôi

đoán chỉ có chừng đó thôi.”

”Đúng vậy,” anh ta nói dứt khoát, đôi tay anh ta hết sức nhẹ nhàng khi thăm dò xem còn thương tích nào không. Cô không thích nó, cái cảm giác lạnh lùng của đôi tay anh ta trên người cô, chạm vào cô với cùng một sự quan tâm và chăm chú mà anh ta có thể dành cho một con ngựa bị thương. Có khi còn không bằng. ”Và cô bị thế cũng đáng đời,” anh ta nói thêm. ”Cô định làm cái quái gì mà lảng vảng ở đây? Nơi này rất nguy hiểm; đến kẻ ngốc cũng biết điều đó? Phải chăng cô có một thôi thúc kinh khủng muốn quay lại hiện trường tội ác, để xem mức độ thiệt hại mình đã gây ra? Nếu không nhờ Beastie có lẽ chẳng bao giờ tôi tìm ra cô.”

Trong lúc tuôn ra tràng đả kích này anh ta đã xoay sở bế xốc cô lên mộc cách dịu dàng trái ngược hẳn với kiểu nói lỗ mãng, và anh ta đưa cô ra ngoài dưới vòm trời rực nắng bằng những bậc thang đá còn sót lại.

”Lúc nào anh cũng tức giận thế sao?” cô thều thào hỏi, tựa đầu vào vai anh ta, quá yếu và mệt để mà tranh cãi.

”Với cô thì đúng,” anh ta đáp thẳng, đi xuống đường và mỗi bước chân lại làm cơ thể xây xát đáng thương của cô xóc lên một đợt.

”Cô làm thế nào mà bị ngã? Chẳng lẽ cô không đủ ý thức để tránh xa miệng hố? Hay cô quá mê mẩn những thứ đổ nát...?”

”Tôi không ngã. Tôi bị đẩy.”

Sự im lặng bao trùm sau đó, và cô phần nào mong đợi anh ta thả cô xuống giữa đường. Anh ta không làm thế, nhưng vẻ mặt càng khắc nghiệt hơn.

”Vẫn thích bi kịch hóa, hả Molly?” Giọng anh ta kéo dài thật khó chịu. ”Tôi còn tưởng trong thời gian qua cô đã chán làm trung tâm chú ý rồi.”

”Anh không tin tôi sao?” cô hỏi, tức giận cuối cùng đã cuốn phăng những bàng hoàng và sợ hãi.

”Một giây cũng không. Tất cả những người khác cũng vậy, nên cô có thể khỏi cần nhọc công. Tại sao lại có người muốn đẩy cô xuống hầm? Nếu người ta muốn giết cô thì còn khối cách hiệu quả hơn.”

Cô đẩy mạnh anh ta, cố gắng thoát khỏi vòng tay anh ta, nhưng cô quên mất anh ta khỏe thế nào. Anh ta chỉ siết chặt thêm, gần như làm cô đau đớn, khi bước về phía ngôi nhà, và cô từ bỏ cuộc chiến đấu vô ích của mình bởi một ý nghĩ an ủi muộn màng chợt xuất hiện. Sự tức giận của anh ta trước câu chuyện của cô, sự hoài nghi của anh ta, hoàn toàn là trung thực. Nếu anh ta không chịu tin cô bị đẩy xuống, thì anh ta không thể nào là người đã đẩy cô. Kẻ thủ phạm thực sự ắt sẽ nói dối để che giấu cho mình, hoặc cố hướng sự nghi ngờ vào người khác. Kẻ thù của cô, sự báo oán của cô, phải là một người khác.

Cô gần như mỉm cười lúc họ về đến nhà. Cô ngồi trong bếp, quan sát ông chồng trừng trừng nhìn cô, còn bà Morse chắt lưỡi và rên rẩm đau lòng và bác Willy, đã hơi ngà ngà vì rượu vào tầm sớm sủa thế này, thì hướng cặp mắt xanh bềnh bệch ra chỗ khác không dám nhìn vết thương máu chảy ròng ròng trong lúc cố ề à động viên cô.

Bác sĩ Turner đến, đó là một người đàn bà trung niên gắt gỏng hình như rất bực mình vì bị quấy rầy. Bà kiểm tra thương tích của Molly, còn sơ sài hơn cả Patrick làm lúc trước, băng bó cho cô, và tuyên bố cô không sao hết ngoài một chút hoảng loạn, trước sự chứng kiến chăm chú của những người ngoài cuộc. ”Nhưng cô nên cẩn thận hơn, cô Winters,” bà nói nghiêm trang, đóng sập chiếc túi y tế méo mó lại. ”Cô sẽ chỉ cảm thấy hơi khó chịu thôi. Sự việc có thể còn tệ hơn nhiều. Cô có thể bị đánh vào đầu lần nữa, rồi chúng tôi sẽ phải đưa cô vào bệnh viện để theo dõi. Tôi cho rằng hiện tại cô đã ngán bệnh viện đến tận cổ rồi.”

”Vâng, bác sĩ Turner,” cô ngoan ngoãn đáp nhỏ, đủ mọi ý nghĩ lướt qua đầu. Cô đã có thể bị giết. Và có người đã đẩy cô, cô biết điều đó rõ như cô đã...Ờ, cô không tường tận lắm về mọi mặt trong con người mình, nhưng cô biết cô đã bị đẩy. Patrick đã làm rõ rằng sẽ chẳng một ai tin cô, và cô sẽ không ngại cố gắng giải thích. Nếu không người nào chịu nghe, hà cớ gì cô phải phí sức?

Ngoại trừ việc Patrick đang nhìn cô với một vẻ kì lạ ẩn sau nét bực bội trong đôi mắt xanh. Có khi rốt cuộc anh ta đã tin cô. Có khi anh ta biết cô đã bị đẩy vì chính anh ta là người đã đẩy cô, và anh ta không dám xuống tay hẳn vì sợ Toby quay lại và trông thấy.

Bác sĩ Turner đã đi ra cửa. Molly vắt óc cố nghĩ xem có cách nào kín đáo để gọi bà lại. Cuối cùng bà Morse cất tiếng.

”Chẳng phải cô có điều muốn hỏi ý kiến bác sĩ Turner sao, Molly?”

Bốn cặp mắt chĩa vào cô, trong đó ánh mắt Patrick tỏ ra nghi ngờ nhất.

”Sao vậy, quý cô?” bác sĩ Turner hỏi khi Molly không nói năng gì. ”Có phải trường hợp khẩn cấp không?”

”À...không ạ.”

”Vậy thì hãy đến phòng khám của tôi và đăng kí hẹn như những người khác. Cho đến giờ tôi đã ở đây quá lâu rồi. Lần sau, Patrick, cậu hãy đưa cô ấy đến phòng cấp cứu.”

”Sẽ không có lần sau đâu,” Patrick bình thản đáp. Và Molly không chắc nên vui hay nên sợ.

”Tôi nghĩ tốt hơn cô hãy ở trên giường cả ngày hôm nay,” Patrick thông báo sau khi bác sĩ Turner ra về. ”Và từ giờ trở đi cô không được ra ngoài trừ phi có người đi cùng.”

”Nhưng tại sao chứ?” cô hỏi, rồi nhăn mặt vì đau. Cô hạ giọng xuống. ”Đây chỉ là một tai nạn – sẽ không xảy ra lần nữa đâu.”

”Cô ra ngoài có người đi kèm hoặc cô không đi đâu hết,” anh ta nói bằng cái giọng không cho phép tranh cãi. ”Và nếu cô không nghe lời tôi sẽ nhốt cô lại.”

”Không nghe lời anh ấy à?” cô nghiến răng lặp lại. ”Anh nghĩ anh là ai, cha tôi chắc? Anh không thể bảo tôi phải làm gì.”

”Tôi còn ngờ rằng cha cô bảo được cô nữa kia,” anh ta nói chua ngoa, và không nói thêm lời nào anh ta sầm sầm ra khỏi nhà, để lại Molly với cơn giận sôi sục.

”Chà,” một lúc sau bà Morse lên tiếng, ”ai mà ngờ cậu ấy lại kích động đến thế?” Bà lắc đầu, nhưng trong mắt lấp lánh một tia hy vọng khó hiểu. ”Đừng lo, Molly. Tôi sẽ nấu cho cô ít súp nóng tuyệt ngon và bánh kẹp giăm bông, cùng với món bánh sô cô la của tôi nữa. Cô sẽ thích cho xem.”

Molly lại thấy đói bụng. Nếu sáng nay cô đã mang thai, thì hiển nhiên cái thai vẫn còn. ”Tôi thích lắm. Bác sẽ ăn cùng tôi chứ, bác Willy?” cô lịch sự hỏi bóng người im lặng trong góc phòng.

Ông ta lắc đầu với vẻ hơi ghê tởm, những sợi tóc màu cam được chải cẩn thận vắt ngang cái đầu hói đỏ hồng bóng lưỡng. ”Không, cảm ơn cháu yêu. Ta luôn chỉ ăn một bữa rất nhẹ lúc vừa ngủ dậy.” Ông ta đứng lên và lững thững ra khỏi bếp, nom như có gì nghĩ ngợi. Xem ra khó có chuyện ông ta nhạy cảm đến độ lo lắng cho sức khỏe của cô, Molly nhìn theo bóng ông ta xa dần với mối nghi ngờ mơ hồ không rõ nét.

”Được rồi, Molly,” bà Morse tiến tới đứng trước mặt cô, hai tay chống nạnh. ”Có chuyện gì thế?”

”Ý bà là sao? Chắc là tôi đã bị vấp chân...”

”Tôi không nói về cú ngã của cô. Giả dụ nó đúng là một cú ngã, nhưng tôi thấy Patrick nói đúng khi bảo cô phải cẩn thận hơn. Không, tôi muốn biết tại sao cô muốn gặp riêng bác sĩ Turner kia. Và đừng đưa mấy cái chuyện tránh thai ra, vì tôi không tin đâu.”

Cô ngước nhìn bà. Đã đến nước này, cô buộc phải tin một ai đó. ”Tôi nghĩ mình có thai rồi.”

”Lạy Chúa lòng lành! Cô đã cho Patrick biết chưa?”

”Tôi vẫn chưa chắc chắn. Nếu nó không phải của anh ấy thì sao?”

Mặt bà Morse xìu xuống. ”Tôi đã không nghĩ tới chuyện đó. Không thể lâu chừng ấy –họ ắt sẽ phát hiện ra cái thai ở bệnh viện sau khi cô bị tai nạn.”

”Và vì tôi đã vắng nhà năm tuần có nghĩa là Patrick...”

”Không phải cha đứa bé,” bà Morse nói nốt hộ cô. ”Sao cô không hỏi cậu ấy?”

”Chưa đến lúc bắt buộc. Đến khi nào tôi gặp bác sĩ Turner và có kết quả chính thức đã. Bà ấy sẽ biết tôi đã có mang được bao lâu.”

”Molly thân yêu,” bà Morse dịu giọng, ”cô không cần phải sợ Pat. Tôi không biết giữa hai người đã xảy ra chuyện gì, nhưng bất chấp vẻ sừng sộ bề ngoài cậu ấy là người đàn ông biết quan tâm và tốt bụng.”

”Hẳn rồi,” Molly nói với một chút cay đắng. ”Anh ấy quan tâm đến Lisa Canning.”

”Cậu ấy quan tâm đến cô, cô bé ạ.”

Molly lắc đầu, không chấp nhận được ý niệm ấy. ”Bà đừng nói gì cho đến khi tôi tìm hiểu rõ ràng. Trong thời gian đó tôi nghĩ mình cần đi khám.”

”Tôi sẽ gọi điện giúp cô,” bà Morse quả quyết. ”Chuyện này không nên để lộ ra ngoài – nếu ai hỏi chúng ta sẽ chỉ bảo rằng cô cảm thấy chóng mặt sau khi bị ngã.”

”Bà không cho rằng tôi đã...làm điều gì đó với cái thai chứ?”

Bà Morse lắc đầu, đôi mắt sau gọng kính tối lại với một nỗi buồn xa vắng. ”Nếu cô bị sẩy thai thì cô sẽ tự cảm thấy, tin tôi đi. Tôi đã bị sảy thai sáu lần, trước khi bác sĩ khuyên tôi đừng cố nữa, không thể không có những triệu chứng, cho dù cô vừa mới có đi nữa. Không, nếu cô có thai thì chưa có chuyện gì xảy ra với cái thai cả.” Bà đứng dậy. ”Tôi gọi đến phòng khám nhé?”

Molly đờ đẫn gật đầu.

Cô vẫn chìm trong suy nghĩ lúc bà Morse trở lại mấy phút sau đó. ”Đồ lễ tân trời đánh. Cô nàng nghĩ bác sĩ Turner là nữ hoàng Anh chứ không phải bác sĩ gia đình của một thị trấn nhỏ. Bà bác sĩ không thể gặp cô cho đến ngày mốt, trừ phi là trường hợp khẩn cấp. Trong khi chờ đợi thì điều tốt nhất cô cần lầm là lên lầu nằm nghỉ và cố đừng có nghĩ linh tinh. Hãy tìm cho mình một cuốn sách hoặc thứ gì đó.”

”Tôi đọc hết rồi,” cô ủ rũ nói, chậm chạp đứng dậy khỏi chiếc ghế cứng. ”Chắc tôi sẽ đi tham quan ngôi nhà.”

”Để làm gì chứ?”

”Vì tôi không nhớ nó,” cô trả lời đơn giản. ”Và tôi không thấy mệt chút nào.”

”Vậy thì cô hãy cẩn thận nếu lên gác mái. Trên đấy để nhiều đồ tạp nham phế thải lắm,” bà cảnh báo. ”Đáng lẽ tôi đi cùng cô nhưng bác Ermy của cô sẽ tới đây trên chuyến tàu lúc 5:47 và Chúa biết rằng tốt hơn tôi hãy chuẩn bị một bữa tối đủ thanh cao hòng phù hợp với khẩu vị của bà ấy. Cô đi đi và chốc nữa hãy xuống đây dùng trà với bánh sô cô la hạnh nhân nếu thấy thích.”

”Tôi sẽ xuống,” cô hứa, cất bước đi.

Lại thêm một sai lầm. Một nỗ lực nữa bị phá hỏng. Con nhỏ bị mỗi một vết rạch ở tay. Mọi việc đi chệch kế hoạch hết cả, và càng lúc càng trở nên bế tắc.

Chẳng chóng thì chầy sẽ có người bắt đầu sinh nghi trước những tai nạn của nó. Molly nghi ngờ thì chả sao – uy tín của nó vốn đã bị ném vào sọt rác. Chẳng ai còn tin lời nó cả.

Cảnh sát địa phương thì khỏi bàn đến. Stroup thì chỉ muốn mò vào quần lót con bé, chấm hết, còn Ryker thì mù mờ đến độ chẳng có gì phải lo. Vẫn chưa.

Nhưng không thể mắc thêm sai lầm nào nữa. Sớm muộn gì trí nhớ con nhỏ cũng phục hồi. Nó không nhớ - không còn nghi ngờ gì nữa, đôi mắt xanh lục của nó hoàn ngơ ngác; nó không hề biết phải tin vào ai.

Nhưng tình trạng vui vẻ ấy sẽ không kéo dài mãi. Lần tới bọn họ sẽ ra tay thật hoàn hảo.

Khiến nó phải chết. Và ngậm miệng.
Loading...

Đọc Tiếp Chương 8

Tới Chương nhanh

Bạn Đang đọc Winter's Edge Chương 7