Hắc Lão Ngũ vén tay áo lên, cười khoái chí rồi vỗ vai tôi mà nói:

- Được rồi, không có bản lĩnh thì sao làm được việc này, coi như mi chính là người lập công đầu rồi. Cái khóa hút máu chết tiệt này giờ đã được mở ra, bên dưới chẳng qua cũng chỉ là một cỗ máy thử lòng chúng ta mà thôi, Hắc Lão Ngũ ta thừa sức đối phó với chúng, mi cứ dưỡng sức đi.

Thấy thái độ cương quyết của lão, vả lại tôi cũng đã thấm mệt, nên cũng không giằng co thêm nữa mà chỉ gật đầu nói:

- Vâng, vậy Lão Ngũ giúp cháu nhé! – Rồi quay sang để chị Giai Tuệ giúp cầm máu, nhưng nhất quyết không chịu băng lại, vì hai bàn tay này sẽ còn phải dùng nhiều đến nó.

Hắc Lão Ngũ vuốt vuốt chỏm râu, rồi chắp hai tay sau lưng, vặn vẹo một hồi sau đó quay người lại, hai bàn tay lão nắm chặt vật gì đó tròn dẹt màu đen sậm, nhẵn bóng, to chừng một phần tư lòng bàn tay. Tôi quan sát thấy vạt áo sau của Lão Ngũ bị vén lên một chút, nhưng thực ra không kịp nhìn thấy lão hành động, nên không hiểu bằng cách nào mà vật đó lại xuất hiện trong tay lão.

Lão Ngũ cầm chắc vật đó trong tay, từ từ quỳ gối, ghé sát mặt xuống miệng lỗ mà lúc trước đặt viên huyết ngọc, ngoẹo cổ sang một bên, nheo mắt nhìn vào bên trong, rồi khẽ ậm ừ trong họng. Tay trái của lão hơi nhích lên phía trước thăm dò, năm ngón tay liên tục xòe ra nắm lại vài lần rất nhanh, vật trong lòng bàn tay lão lập tức tách làm đôi giống như vỏ sò, để lộ ra một tia sáng màu xanh biếc. Nhìn kỹ hơn, tôi mới nhận ra mặt trong của nắp trên và nắp dưới của nó đều có khảm một viên ngọc tự phát sáng màu xanh lục, bóng tối âm u trong căn phòng càng khiến cho viên ngọc tỏa sáng lấp lánh, đẹp một cách lạ kỳ.

- Gương Dạ Minh!

Bỗng nhận ra đây là một bảo bối, tôi vội thốt lên. Có lần ông tôi đã kể cho tôi về bảo bối của những tên trộm chuyên nghiệp, gương Dạ Minh chính là một trong số đó. Nó được sử dụng trong hoàn cảnh cần ánh sáng vào ban đêm, so với các loại đèn chuyên dụng thì khả năng chiếu sáng của loại gương này còn lớn hơn gấp cả trăm lần.

Hắc Lão Ngũ chỉ gật đầu mà không trả lời, rồi lão quay lại nhẹ nhàng đưa chiếc gương kề sát miệng lỗ, tay không ngừng điều khiển góc chiếu của chiếc gương để ánh sáng lọt vào bên trong lỗ. Lão chậm rãi nói:

- Ta không thấy viên huyết ngọc đâu cả, bên trong chỉ có một cái móc giật, chắc đây chính là… ái chà, chết tiệt, trên tường còn cắm hẳn năm lưỡi dao răng cưa, định làm khó người mở chúng đây, nhưng khó nhằn thế nào ta cũng giải quyết được.

Nghe đến việc có gươm đao đã khiến tôi sợ cứng người, liền quay sang hỏi lão liệu có quá nguy hiểm không?

Hắc Lão Ngũ vẫn giữ vẻ mặt thản nhiên trả lời:

- Nó chỉ cứa được chân bọn cóc nhái chứ không làm được gì ta đâu, nhưng nếu để nó cắt trúng thì sẽ đau lắm đấy. Nguy hiểm đến mức nào ta chưa biết được, nhưng các ngươi chống mắt nhìn Lão Ngũ ta phá chúng đây! – Nói rồi, lão đặt vật màu đen giống như vỏ sò lên mặt sàn, từ bên trong phát ra một tiếng động nhẹ, rồi những mảnh vỡ nhỏ như móng tay thi nhau rơi xuống mặt sàn. Lão gom những mảnh vỡ lại và khi nhấc tay lên thì chúng được xâu thành một chuỗi giống như chuỗi ngọc trai.

Nào là gương Dạ Minh, nào là chuỗi hạt kỳ lạ, chị Giai Tuệ cứ thế tròn mắt lên nhìn, vẻ ngẩn ngơ không hiểu gì. Kể cũng lạ, chị ấy rõ ràng là một cảnh sát ưu tú, đã từng xuất sắc phá được rất nhiều vụ án li kỳ, thế nhưng đối với những mánh khóe của chúng tôi thì lại không hề biết tới, lần đầu tiên được chứng kiến tận mắt nên không tránh khỏi lạ lẫm và ngạc nhiên.

Tôi cũng lập tức nhận ra chuỗi hạt đó chính là chuỗi hạt Ô Kim, nó được đúc từ vàng đen[1], thành những hạt hình cầu như ngọc trai, bên trong lõi hạt là những chiếc móc gai nhỏ xíu móc vào sợi dây trong suốt xâu thành chuỗi, khi chụm lại chúng sẽ tạo thành hình vỏ sò, chuỗi hạt này có thể mở được tất cả các loại khóa dạng xích, đó cũng được coi là một trong những bảo bối của dân trộm chuyên nghiệp.

[1] Chính là bạch kim đã qua tôi luyện chuyển sang màu đen, nhưng vẫn giữ được độ sáng bóng, được coi là một loại hợp kim quý hơn cả bạch kim.

Hắc Lão Ngũ đặt chiếc gương Dạ Minh sang bên cạnh, lách cách vài tiếng rồi cầm một đầu chuỗi hạt, vừa thả mạnh chuỗi hạt xuống miệng lỗ vừa nheo mắt ngắm theo hướng rơi của nó.

Điều kinh khủng lập tức xảy ra, khi chúng tôi vừa nghe thấy tiếng của những hạt ngọc va vào thành lỗ, thì trong cái lỗ tối đen như mực lập tức bắn ra năm lưỡi dao hình răng cưa, mỗi lưỡi chỉ dài khoảng năm sáu phân, vô cùng sắc bén, chúng va chạm với chuỗi hạt gây ra một tràng âm thanh đinh tai nhức óc. Không chỉ thế, những lưỡi dao đó bay một vòng rồi lại liệng theo hình vòng cung quay trở lại với tốc độ chóng mặt, giống như chiếc chong chóng với tiếng kim loại chát chúa.

Tôi thè lưỡi ra, chỉ lắp bắp được mấy chữ “Quá nguy hiểm!”. Giả sử những người không biết chiếc bẫy tinh vi này dại dột thò tay xuống dưới lỗ thì e rằng ngay cả xương cũng bị nghiền nát, không để lại dấu vết.

Lão Ngũ nheo đôi mắt lá răm mỏng dính lại, tập trung dõi theo hướng bay của những lưỡi dao, tay trái lão tuốt một viên từ chuỗi hạt rồi đặt trên móng tay ngón giữa của bàn tay phải, nhắm thật chuẩn vị trí rồi bắn mạnh vào bên trong lỗ, viên ngọc nhanh như chớp lao thẳng vào bên trong.

Một tia sáng lói vụt lóe kèm theo một chuỗi âm thanh chói tai dọi đến, ngay sau đó là tiếng lưỡi dao rơi xuống đáy lỗ vọng lại, thì ra một lưỡi dao đã bị gẫy đôi, một phần rơi xuống phía dưới.

Tôi giật nảy mình, quay sang nhìn lại đôi bàn tay xương xẩu như chân gà của lão, bỗng chột dạ không hiểu tại sao đôi tay gầy gò của một lão già lại mang một sức mạnh lớn đến như vậy, lại còn có thể bách phát bách trúng chuẩn xác như thế.

Hai tay Lão Ngũ cứ thế không ngừng tuốt từng viên ra khỏi chuỗi hạt rồi bắn vào phía trong miệng lỗ, bốn lưỡi dao còn lại cũng lần lượt bị bắn rơi, giờ chỉ còn lại một phần của bốn lưỡi dao nhưng tốc độ đã yếu đi rất nhiều.

Đợi một vài giây sau, Lão Ngũ lại tiếp tục dùng những hạt còn lại bắn vào phần gốc của bốn lưỡi dao để đổi hướng quay của chúng, những tiếng lạch cạch nối tiếp nhau vang lên rồi ngưng bặt. Một lúc sau, các lưỡi dao dừng quay thật, thì ra chúng đã bị bắn trúng, cắm lỗ chỗ vào xung quanh tường. Thấy khuôn mặt lão giãn ra, tôi đoán là lão đã giải quyết xong những lưỡi dao đó.

Lão Ngũ lồm cồm đứng lên, cúi xuống nhặt lại bốn viên ngọc rơi trên mặt sàn, rồi thò tay vào miệng lỗ gắp ra viên ngọc đầu tiên, đặt vào lòng bàn tay, ra sức ấn hai tay thật mạnh vào nhau, “rắc, rắc” vài tiếng, những viên ngọc giờ đã lại hợp thành một vật hình tròn dẹt màu đen trũi. Xong việc, Lão Ngũ nhanh tay cất chuỗi Ô Kim và gương Dạ Minh vào trong áo rồi mới quay sang chúng tôi, cười khoái chí:

- Nhóc con, thấy tài nghệ của Lão Ngũ ta có điêu luyện không?

Tôi và chị Giai Tuệ cùng giơ ngón tay cái ra hiệu bái phục và đồng thanh nói:

- Lão Ngũ thật không ai sánh bằng!

Khuôn mặt Lão Ngũ giãn ra tỏ vẻ vô cùng đắc ý, lão cười phá lên rồi không ngừng tấm tắc:

- Cũng hay, cũng hay…

Chị Giai Tuệ tủm tỉm hỏi lại lão:

- Lão Ngũ sao không nói “hay đấy” mà lại đổi thành “cũng hay” rồi?

Tôi vội nhanh miệng nói chen vào:

- Em biết rồi, bởi vì sau màn cũng hay này nhất định sẽ là màn quá hay!

Nói xong, ba người chúng tôi quay sang nhìn nhau, rồi cùng phá lên cười, cảm giác gần gũi thân quen tăng lên rất nhiều.

Chị Giai Tuệ dìu tôi bước tới miệng lỗ, quỳ gối xuống ngó vào bên trong, bốn phần còn lại của lưỡi dao cắm vào các cạnh xung quanh, phần giữa của năm lưỡi dao đều có gắn một hòn bi rỗng, được xỏ qua hai sợi dây mảnh màu xanh, nhờ đó mà lưỡi dao mới có thể quay được.

Cả cái lỗ sâu chừng hơn chục centimet, dưới đáy là một tấm kim loại màu vàng kim có gắn một khuyên tròn màu xám bạc ở chính giữa, viên huyết ngọc không biết đã lặn đi đâu.

Chị Giai Tuệ giờ mới chịu lên tiếng:

- Vị trí chiếc khuyên này ngay ở chính giữa, liệu nó có phải lại là một chiếc khóa khác?

Tôi nhìn kỹ lại lần nữa, do dự một lúc rồi nói:

- Em không nghĩ là một chiếc khóa, hình như nó là một cái chốt thì phải. Hay là để em kéo lên thử xem!

- Đợi đã! – Chị Giai Tuệ bỗng kéo tay tôi lại. – Để chị. Hai người đã mệt suốt từ nãy tới giờ rồi, việc này cứ giao cho chị.

Tôi và Lão Ngũ quan sát kỹ càng chiếc khóa lại một lần nữa, với những gì được tận mắt thấy, chúng tôi thực sự không nhận ra dấu hiệu của cỗ máy nào ẩn giấu, nên quay sang gật đầu đồng ý.

Chị Giai Tuệ bỏ chiếc balô đang đeo trên lưng xuống, lấy ra hai chai nước lọc đưa cho chúng tôi uống. Rồi chị đi tới bên chiếc khóa, cúi rạp người sát xuống miệng lỗ, thò một tay xuống bên dưới, móc một ngón tay vào chiếc khuyên kim loại, hơi nhấc lên rồi chị quay đầu nói với chúng tôi:

- Có thể nhấc lên được rồi!

Nhận thấy không có gì khác thường, chị nhấc cao cánh tay lên. Điều lạ ở chỗ, trong chiếc lỗ đen thui đó không phát ra bất kì âm thanh nào, tôi đoán rằng, nhất định chúng đã được phủ một lớp dầu bôi trơn.

Chiếc khuyên kim loại dần dần được kéo lên khỏi miệng lỗ, đồng thời kéo theo cả một đoạn dây xích với những vòng khuyên tròn nối lại với nhau. Lên khỏi miệng lỗ khoảng năm phân, sợi dây xích bỗng khựng lại không sao kéo thêm được nữa. Chị Giai Tuệ đặt chúng lên mặt sàn cạnh miệng lỗ, nhưng cũng không thấy chúng bị kéo lại, đợi một lúc vẫn không thấy phản ứng gì.

Lão Ngũ bước tới, cầm sợi dây xích lên, bực tức nói:

- Cái trò chết tiệt gì thế này, mất cả ngày trời với nó mà vẫn chưa mở được là sao?

Tôi cũng cảm thấy hơi kỳ lạ, đang định mở lời thì mặt sàn dưới chân đột nhiên rung lên bần bật, trong phút chốc chúng tôi như rơi tõm xuống hố sâu, mọi thứ trước mắt trong nháy mắt đã phủ một màu đen ngòm.

Bất ngờ trước hoàn cảnh, ba người chúng tôi đồng loạt lên tiếng, tôi thì “á” một tiếng, Hắc Lão Ngũ chỉ một câu “mẹ kiếp!”, còn chị Giai Tuệ thì buột miệng kêu “ừm!”. Đấy đều rất đúng với tính cách của từng người chúng tôi.

Nghe thấy tiếng của hai người kia bên cạnh mình nên lòng tôi cũng yên tâm phần nào. Mới đầu, tôi cứ nghĩ chúng tôi bị rơi xuống một cái hố sâu hoắm, tay chân vẫn đứng vững trên sàn nhưng chỉ có điều mặt sàn không ngừng lún xuống dưới giống như đang đứng trong thang máy vậy. Tôi không thấy mặt sàn rung chuyển nhiều nữa mà chỉ nghe bên tai có tiếng ken két nhè nhẹ của kim loại cọ xát vào nhau.

Tôi ngẩng đầu nhìn lên, trần nhà của điện Sùng Chính mỗi lúc một nhỏ lại, xem ra chúng tôi đang tụt sâu xuống hầm nằm ngay dưới bục ngai vàng của hoàng đế.

“Tách!” một tiếng, Hắc Lão Ngũ mở chiếc gương Dạ Minh, khiến khung cảnh xung quanh đột ngột sáng bừng.

Tôi ngó nghiêng quan sát bốn phía, xung quanh chúng tôi đều là bốn bức tường vuông góc với nhau, nó giống như một đường ống thông gió, trên bốn bức tường đều ánh lên màu kim loại.

Chị Giai Tuệ bỗng giậm chân thình thích, chán nản thốt lên:

- Chết rồi, cháu để quên đèn pin trên kia mất rồi!

Lão Ngũ tặc lưỡi nói:

- Sợ cái gì, ta dùng cái gương này cũng được chứ sao? – Nói rồi lão liền nắm chặt lấy cổ tay tôi. – Mọi người phải nắm chặt tay nhau, nhất định không được tách ra, có giời mới biết được bao giờ mới tới nơi. Phải rồi, chúng bay mau nhắm mắt lại, lưỡi đặt lên hàm trên, hít vào bằng mũi thở ra bằng mồm, càng xuống dưới không khí càng loãng sẽ khó thở hơn đấy.

Tôi và chị Giai Tuệ vội thực hiện theo kinh nghiệm của tiền bối, ba người chúng tôi nắm tay nhau tạo thành vòng tròn, nhắm mắt, điều chỉnh nhịp thở, im lặng chờ đợi cho chiếc thang máy khổng lồ này chạm đất.

Mặt sàn vẫn tiếp tục sâu xuống dưới, tôi bắt đầu thấy tim mình loạn nhịp, đã vài lần hé trộm mắt để nhìn, tôi cảm thấy càng xuống sâu, bóng tối xung quanh như càng dầy lên khiến cả đường dẫn giờ chìm vào một màu đen kịt, nhiệt độ mỗi lúc một xuống thấp, đem lại cho con người ta một cảm giác mát mẻ sảng khoái. Tôi đang không biết chúng tôi đã xuống dưới này bao lâu rồi, thì bỗng nhiên mặt sàn hơi rung nhẹ, đầu óc tôi hơi choáng váng, bụng dạ cồn cào, hình như chúng tôi đã đến nơi.

Tôi vội vàng ngẩng đầu ngó lên, do chiếc đèn pin chị Giai Tuệ bật để trên miệng hang nên tôi vẫn nhìn thấy đốm sáng từ xa xa, thế nhưng giờ nó chỉ như một ngôi sao lấp lánh trên bầu trời.

Lão Ngũ thả tay tôi ra, rồi bỗng “tách” một tiếng, cả đường ống dẫn giờ bừng lên trong thứ ánh sáng xanh nhạt. Lão lôi chiếc gương Dạ Minh ra, lần lượt hướng về phía chúng tôi kiểm tra.

- Hai đứa đều không sao chứ?

- Không sao ạ! – Chúng tôi ngó sang nhau rồi đồng thanh trả lời.

- Không ngờ lại có một căn hầm to đến vậy, hay đấy, hay đấy. – Nói rồi lão đá chân lên vòng xích, tiếng leng keng vọng khắp bốn bức tường vang lên. Lão bỗng cười ha hả, ra chiều đắc chí:

- Xem ra đây chính là chìa khóa của căn hầm này rồi, hay đấy, hay đây!

Chị Giai Tuệ quan sát kỹ bốn phía rồi mới lên tiếng:

- Những chuyên gia trắc địa khảo sát có nói rằng, bên dưới tấm bục này có một khoảng không gian rất rộng, chắc chính là nơi này đây. Sở thúc cũng đã tìm ra con đường này, nhưng sau khi xuống đây thì mất tích.

Nghe thấy chị Giai Tuệ nhắc đến ông nội, tôi đột nhiên nhớ ra, ông nội tôi cũng xuống tới đây rồi đi theo đường nào nhỉ? Tôi vội vàng giằng lấy chiếc gương Dạ Minh trên tay Lão Ngũ, soi từng centimet bốn bức tường xung quanh để tìm dấu vết.

Tôi không ngừng tìm kiếm, miết mạnh lên bức tường rồi lại vỗ lên đó để nghe âm thanh phát ra, thế nhưng vẫn chỉ là bốn bức tường lạnh ngắt, tôi không tìm thấy một manh mối nào vế cánh cửa hay một lối đi nào khác. Ông nội tôi rốt cuộc đã ở đâu? Tôi hoang mang quay sang nhìn hai người bọn họ.

- Cũng không đúng! – Lão Ngũ bỗng lên tiếng, tay xoa cằm vẻ đăm chiêu. – Nếu như lão Sở cũng qua con đường này, rồi mất tích ở đây, vậy thì chắc chắn lão cũng phải phá được những cửa ải vừa xong. Viên ngọc hút máu thì không nói làm gì rồi, nhưng mọi người đều tận mắt chứng kiến, năm lưỡi dao kia là có thật. Giai Tuệ, vậy lúc phát hiện ra lão Sở mất tích, mọi người có thấy dấu vết của những lưỡi dao đó văng ra không?

Chị Giai Tuệ “ồ” lên một tiếng, ngẩng mặt lên nhìn quanh bốn phía, suy ngẫm một hồi rồi trả lời:

- Đúng thật là không có, lẽ nào Sở thúc đã mở cánh cửa khác, mà không phải phá năm lưỡi dao kia? Hoặc là, Sở thúc không hề qua con đường này mà tìm ra một con đường hoàn toàn khác.

Lão Ngũ chăm chú nghe lời nhận xét của chị Giai Tuệ rồi gật gù nói:

- Ừ, có lý, có lý! – Lão trầm ngâm vuốt vuốt mấy sợi râu lưa thưa dưới cằm. – Lão Sở chắc chắn đã đi qua lối đó, nhưng không thể nào đoán ra lão đã làm cách nào bỏ qua năm lưỡi dao kia, xem ra đúng là còn có một cánh cửa khác thật.

Dừng lại một lúc, lão quay sang nhìn tôi, vỗ vỗ lên bức tường kim loại bên cạnh, cười xòa rồi nói:

- Chúng ta cứ thử tìm xem thế nào, xem xem làm thế nào để đi tiếp, khéo Lão Sở lại đang ngồi ở đâu đó đợi chúng ta đến uống rượu cùng cũng nên. Ha ha. Hay đây, hay đấy!

Tôi thở dài, nghĩ bụng Lão Ngũ chỉ là đang an ủi mà thôi, thế nhưng tôi vẫn nuôi hi vọng điều đó là sự thật, mong rằng ông nội đang bình an ở một nơi nào đó đợi chúng tôi.

Lão Ngũ chỉnh lại góc chiếu sáng của chiếc gương Dạ Minh cho rộng hơn, rồi đặt ở một góc khiến cho đường địa đạo giờ giống như một chiếc đèn lồng lớn với ánh sáng hết sức rực rỡ.

Dưới ánh sáng từ chiếc gương Dạ Minh, ba người chúng tôi đều căng mắt, miết tay lên bức tường kim loại, cố gắng tìm cho ra cỗ máy đang được cất giấu.

Mặt tường nhẵn mịn một cách lạ thường, không thấy bất kỳ một dấu vết lồi lõm, chúng dường như phẳng lì từ trên xuống dưới, cũng không biết được nó làm bằng chất liệu gì, sau khi đã xem xét kĩ đến từng milimet cũng không tìm ra được một dấu hiệu khả quan, dù chỉ là một vết nứt. Tôi bắt đầu thấy sốt ruột, giậm chân cau có, chẳng nhẽ lại chịu chết dí ở đây hay sao?

Chị Giai Tuệ nắm lấy tay tôi, khẽ bóp nhẹ, rồi cúi đầu nhìn xuống sợi dây xích dưới chân và lưỡng lự nói:

- Chúng ta… có nên… hay là thử kiểm tra sợi xích này xem sao?

Lão Ngũ “ừ” nhẹ một tiếng, gật gật đầu tỏ vẻ tán đồng.

- Cũng có thể. – Nói rồi lão cúi gập người xuống với lấy sợi xích rồi giật mạnh lên, nhưng vẫn không có chút phản ứng gì. Lão liền ném sợi xích đánh phịch xuống đất, nói tiếp. – Không phải, không phải, nó không hề nhúc nhích!

Thấy hình dạng của sợi xích hơi lạ thường, trong đầu tôi bỗng vụt lên một ý nghĩ mơ hồ, tôi vội vàng quỳ gối ngồi xuống, cầm sợi xích lên tay quan sát tỉ mỉ. Sợi dây xích dài khoảng bảy tám phân, móc xích to chừng đầu ngón tay, tôi đếm tổng cộng gồm có ba mươi sáu mắt xích kim loại được mài giũa hết sức tinh vi, chúng xâu lại với nhau tạo thành một chuỗi dài.

Tôi mân mê sợi xích trên tay, nhấc hai mắt xích lên ghép lại với nhau. Bỗng phát hiện ra tại mỗi điểm nối của mắt xích đều có một sợi dây kim loại rất mảnh, màu xám bạc xuyên qua. Tôi dùng móng tay út khều nhẹ lên, nó là một sợi kim loại vô cùng mềm mại và dẻo dai. Tôi chuyển sang quan sát những mắt xích khác, chúng đều có cấu tạo y hệt như vậy, vậy là đã rõ, sợi kim loại mảnh màu xám bạc này dùng để nối hai mắt xích lại với nhau.

Quan sát đến đây, tôi dần dần hiểu ra vấn đề, cảm thấy trong lòng đã có một hướng đi nhất định. Tôi liền bảo chị Giai Tuệ cầm chiếc gương Dạ Minh tới soi cho thật kỹ. Giờ thì tôi đã quan sát được kỹ hơn, thì ra sợi dây kim loại đó lại do hai sợi kim loại vô cùng mảnh khác vê thành, giống như sợi tóc của tôi vậy, chúng xoắn lại với nhau khít tới mức khó nhìn thấy bằng mắt thường.

Tôi rút chiếc kính chuyên dụng của mình ra, quan sát kỹ hơn bề mặt của mắt xích, và tôi phát hiện ra mặt trong của mỗi mắt xích đều có khắc một dấu thập, chúng thậm chí còn nhỏ hơn hạt vừng, nếu không để ý sẽ không nhìn thấy. Đúng là bảo bối, bụng nghĩ như vậy, nên tôi không thể không tỉ mỉ quan sát nó.

Thấy tôi có vẻ đã tìm ra manh mối, Hắc Lão Ngũ liền nhào tới, hỏi tôi xem có phải đã tìm ra điều gì đó không. Tôi khẽ đặt chiếc khóa xích xuống ngẩng lên nhìn lão, rồi nói:

- Sợi dây xích này chính là một chiếc khóa, nó được gọi là Khóa tơ Thiên Cương ba mươi sáu vòng.

Khóa tơ Thiên Cương ba mươi sáu vòng, quả đúng như tên gọi, sợi dây xích được kết từ ba mươi sáu vòng xích đúc bằng thép không gỉ, là một trong những dạng chuỗi. Ông nội tôi kể rằng, loại khóa này được chế tạo vào thời Nam Đường, đó là khoảng thời gian mà kỹ thuật đúc lúc bấy giờ rất phát triển. Cấu tạo của những mắt xích này rất phức tạp, chúng đều rỗng ở giữa với lõi khóa bằng đồng có thể xoay tròn, hai mắt xích được nối với nhau bằng hai sợi dây mảnh làm từ hợp kim đồng. Nếu như mỗi mắt xích là một ổ khóa thì ba mươi sáu mắt xích nối lại với nhau sẽ tạo thành một chuỗi khóa biến hóa khôn lường.

Khi nghe xong những lời giải thích của tôi, chị Giai Tuệ liền thở dài và nói:

- Không ngờ rằng sợi dây xích ngắn vậy mà lại là một chiếc khóa phức tạp đến thế. Lan Lan, em nghĩ chiếc khóa này có dễ mở không?

Tôi lại nhấc đoạn xích lên, cầm đoạn nối giữa hai mắt xích, chỉ cho chị thấy sợi dây mảnh bằng hợp kim đồng nối giữa chúng, rồi nói:

- Em nghĩ rằng sẽ không khó lắm nhưng sẽ rất tốn sức. Đừng xem thường, sợi dây mỏng manh là thế nhưng thực ra nó lại là mấu chốt quan trọng của cả chiếc khóa. Khi mở được một móc xích, sợi dây này sẽ tự động co rút lại, kéo sang móc xích tiếp theo, cứ thế từng cái từng cái nối lại, cho đến cái móc thứ ba mươi sáu thì sức kéo của sợi dây này tới mức nào thì cũng khó có thể đoán biết được.

Thấy hai người vẫn có vẻ mơ hồ về độ co rút của loại kim loại này, tôi mới giảng giải chi tiết hơn, ba mươi sáu vòng Thiên Cương đại diện cho ba mươi sáu vì sao trên trời, nó ngầm ứng với ba trăm sáu mươi độ, lấy dãy số Thiên Cương để chỉ số độ Trái đất quay quanh Mặt trời một vòng, là một dạng lực khó ước tính được. Tuy sợi dây xích này trông có vẻ rất mảnh, thế nhưng mỗi móc xích lại có một lực rất lớn, e rằng đến một chiếc xe ô tô cũng không thể kéo đứt được nó.

Tôi quay lại quan sát đoạn dây xích một lần nữa, suy nghĩ hồi lâu rồi nói với Hắc Lão Ngũ:

- Lão Ngũ, với sức lực hiện tại của cháu chắc chỉ có thể tháo được ba mươi mắt, chỗ còn lại chắc phải để lão ra tay rồi.

Lão Ngũ lập tức đồng ý, không chút suy tính.

- Được, vậy mi thực hiện trước đi, để ta quan sát cách mở trước, khi nào mệt lập tức chuyển cho ta.

Tôi gật đầu, rồi rút bọc da hươu trong túi ra, ngắm lại lỗ khóa rồi chọn ra một chiếc kim móc phù hợp nhất, từ từ tra kim vào lỗ khóa.

Lỗ khóa vừa nhỏ lại vừa ngắn, trục khóa thì nhỏ tới mức không thể tưởng tượng nổi. Tôi phải dùng đầu ngón tay cảm nhận để mở khóa, giọng Lão Ngũ vọng lại bên tai:

- Bên trong đó là hai trục khóa hình chữ thập, bị gắn chặt bởi một sợi dây hợp kim đồng, chỉ khi nào di chuyển cho hai trục đó nằm sát lại với nhau thì sợi dây kim loại kia mới tự động bung ra, thít chặt trục khóa của mắt xích tiếp theo…

Một tiếng “tách” nhẹ vang lên, vậy là mắt khóa thứ nhất đã được mở, sợi dây hợp kim đồng nhanh chóng tuột ra, co về cố thủ trong lõi khóa mắt xích thứ hai.

Tôi đặt mắt xích đầu tiên lên mặt sàn, rồi tiếp tục mở sang mắt xích thứ hai. Lần này lực tác động trên đầu ngón tay tôi đã mạnh hơn chút xíu, nhưng vẫn chưa lớn lắm, tôi vẫn dễ dàng mở được nó.

Cứ như vậy, tôi tháo từng cái rồi từng cái một, cho đến chi tháo tới mắt xích thứ tám, lực kéo của sợi dây đã rất lớn, khiến tôi có cảm giác như đang giằng kéo sợi dây xích cổ của một con chó đang lên cơn dại. Tôi có cảm giác mình hơi đuối sức, đầu ngón tay cầm kim móc giờ đã tê dại đến mức mất cảm giác, trục khóa giờ giống như đã bị hàn cứng lại, càng lúc càng khó di chuyển nó.

Lão Ngũ nhìn chăm chú những động tác của đôi bàn tay tôi đang thao tác, thấy tôi đã có vẻ lỏng tay, lão vội vàng nói:

- Nhóc con, dừng tay nghỉ chút đi, để ta làm tiếp cho!

Tay tôi không dám ngừng lại dù chỉ trong giây lát, tôi thở hổn hển, giọng đứt quãng vì mệt:

- Vẫn… vẫn còn có thể cố thêm vài cái nữa. Phải… phải nhớ rằng, khi… đổi tay, nhất… nhất định không được lỏng tay, nếu không… nếu không sợi dây này… sẽ càng co chặt hơn.
Loading...

Đọc Tiếp Chương 09

Tới Chương nhanh

Bạn Đang đọc Thiên Tỏa Chương 08