- Bắt mạch cho hắn, - Robin nói. Stephen đặt một ngón tay lên thùy tai Metcalfe bắt mạch. Mạch đang 70. - Đưa vào buồng phẫu thuật. – Robin hướng dẫn. James đẩy chiếc bàn có bánh xe sang phòng bên, dừng lại ngay dưới các ngọn đèn mổ. Stephen đẩy máy Boyles theo sau. Buồng mổ không có cửa sổ và vô trùng đến lạnh lẽo. Các bức tường đều được lát gạch kính bóng loáng từ sàn cho tới tận trần. Trong phòng có đủ thiết bị ột ca phẫu thuật. Jean – Pierre phủ lên người Harvey một tấm khăn tẩy trùng màu xanh, chỉ để hở đầu và hai cánh tay. Một chiếc bàn có bánh xe lăn chất đầu các dụng cụ, drap, khăn mặt tẩy trùng. Tất cả những thứ này cũng được phủ kín bằng một tấm khăn tẩy trùng. Robin treo một cái chai đựng chất lỏng intravenous vào cây cọt ở đầu bàn mổ rồi buộc một đầu ống dẫn vào cánh tay trái của Harvey. Stephen ngồi ở đầu bàn, cạnh máy gây mê Boyles, điều chỉnh mặt nạ chụp xuống mũi, mồm Harvey. Trong số ba ngọn đèn lớn phía trên Harvey, chỉ có một ngọn đèn được bật nhằm tạo ra một khoảng sáng tập trung, chiếu thẳng vào chỗ phình lên trên bụng Harvey. Tám con mắt đổ dồn vào nạn nhân. Robin tiếp tục ra lệnh: - Tôi sẽ đưa ra các hướng dẫn tương tự như trong các lần tập, vì vậy, tất cả hãy tập trung. Trước hết, tôi sẽ lau sạch phần da bụng bằng I - ốt. Robin đã có tất cả các dụng cụ cần thiết ngay bên cạnh bàn, gần chân Harvey. James nhấc tấm khăn phủ lên, cuộn dần về phía chân Harvey, sau đó, anh cẩn thận nhấc tấm khăn tẩy trùng phủ bàn dụng cụ lên, đổ I - ốt vào một trong số các chậu nhỏ. Robin dùng kẹp gắn một miếng gạc nhúng sâu vào dung dịch I - ốt. Với một động tác dứt khoát, anh lau sạch bụng Harvey, vứt miếng gạc vào bồn rồi lại tiếp tục lấy gạc mới để lau. Sau đó, anh đặt một cái khăn mặt tẩy trùng dưới cằm Harvey, che toàn bộ phần ngực, và phủ một cái lên hông và hai đùi. Anh lại đặt một cái thứ ba dọc theo cơ thể Harvey, ở bên trái và một cái cuối cùng ở bên phải chỉ để lại một khoảng rộng chừng 9 inch trên bụng. Ở mỗi góc, anh đều kẹp lại bằng một chiếc kẹp để giữ các tấm khăn khỏi xô lệch. Giờ thì Robin đã sẵn sàng: - Dao! Jean – Pierre đặt cái mà anh có thể gọi là dao vào lòng bàn tay đang xòe rộng, như thể bàn tay của vận động viên chạy tiếp sức đang chờ nhận cây gậy đồng đội chuyền cho, của Robin. Jean – Pierre nhìn sang phía bên kia bàn mổ và bắt gặp đôi mắt sợ hãi của James, còn Stephen đang mải tập trung chú ý tới nhịp thở của Harvey. Robin thoáng lưỡng lực một giây rồi quả quyết rạch một đường chính xác, dài đúng 10 cm, sâu chừng 3 cm. Ít có khi nào Robin lại được tận mắt chứng kiến một cái dạ dày bự đến thế này. Anh có thể rạch sau tới 8cm mà vẫn không lo chạm vào cơ. Máu bắt đầu chảy túa ra, Robin phải cầm máu bằng phép nhiệt điện. Ngay sau khi rạch bụng và cầm máu xong, anh tiến hành khâu vết thương cho bệnh nhân bằng một loại chỉ đặc biệt. - Nó sẽ tự tiêu trong vòng một tuần, - anh giải thích. Sau đó, anh lau sạch viết rạch và các vệt máu, rồi đặt một miếng băng dính lên trên tác phẩm của mình. James gỡ các tấm drap và các tấm khăn tẩy trùng ra, bỏ chúng vào một cái thùng lớn, còn Robin và Jean – Pierre mặc cho Metcalfe chiếc áo choàng bệnh viện. Họ cẩn thận gói kỹ đồ của gã vào một chiếc túi làm bằng chất dẻo màu xám. - Hắn đang tỉnh lại, - Stephen nói. Robin tiêm thêm cho Harvey 10mg diazepan. - Ít nhất, hắn cũng ngủ thêm 30 phút nữa, - anh nói, - và bất luận thế nào, hắn cũng sẽ mơ mơ màng màng trong khoảng ba tiếng. Sau đó, hắn sẽ không nhớ nhiều lắm về những gì đã xảy ra. James, cậu ra xe cứu thương trước, và chờ bọn tôi ở cổng bệnh viện. James rời khỏi phòng mổ, thay quần áo, một thủ tục mà bây giờ anh có thể hoàn tất trong 90 giây. Anh mất hút trong bãi đỗ xe. - Nào, hai cậu, thay quần áo đi, rồi đưa Harvey ra xe cứu thương. Jean – Pierre sẽ ngồi ở khoang sau với hắn, còn Stephen, hãy tiến hành nhiệm vụ tiếp theo của mình. Stephen và Jean – Pierre nhanh nhẹn thay quần áo. Họ mặc lại chiếc áo choàng dài màu trắng rồi nhẹ nhàng đẩy chiếc bàn chở Harvey Metcalfe đang mê man về phía xe cứu thương. Khi xong xuôi, Stephen chạy tới trạm điện thoại công cộng gần cổng bệnh viện, anh rút từ trong ví ra một mảnh giấy nhỏ, đọc lướt qua rồi quay số. - Xin chào, tòa soan Nice-Matin phải không ạ? Tôi là Terry Roads, phóng viên New York Times. Tôi có một câu chuyện thú vị nho nhỏ dành cho các ngài… Robin trở lại phòng mổ, đẩy chiếc bàn đựng dụng cụ vừa dùng vào phòng tẩy trùng. Sáng mai, nhân viên ca sáng sẽ xử lý chúng. Anh cầm chiếc túi đựng quần áo của Harvey lên, đi sang phòng thay quần áo, nhanh nhẹn cởi áo mổ, mũ và mặt nạ ra, mặc lại quần áo của mình. Trong lúc người y tá trưởng kiểm tra lại đồ nghề do Robin bàn giao, anh nở một nụ cười hấp dẫn với cô. - Tất cả đã hoàn tất, ma soeur. Tôi để lại mọi dụng cụ trong phòng tẩy trùng. Một lần nữa, xin cô cho tôi gửi lời cám ơn bác sỹ Bartise. Một lát sau, Robin đi bộ về phía xe cứu thương. Cùng đi với anh là nữ y tá anh đã thuê của đại lý. Anh giúp cô lên xe, vào khoang sau. - Hãy đi thật chậm và cẩm thận về cảng. James gật đầu rồi lên đường với tốc độ đưa đám. - Cô là y tá Faubert? - Vâng, thưa bác sỹ Barker. Cô Faubert mặc trang phục y tá dài tay. Cô có chất giọng Pháp duyên dáng, cuốn hút, tới mức Robin nghĩ Harvey không thể nào lại không hài lòng với bàn tay chăm sóc của cô. Việc tìm kiếm chiếc du thuyền Messenger Boy chẳng có gì là khó khăn. Thuyền nằm ở phía đông cảng, nước sơn mới lấp lánh trong nắng. Trên cột buồm vững chắc, lá cờ Panama rộng lớn bay phần phật. Robin cho rằng đây là một cách trốn thuế. Anh bước lên tấm ván dẫn lên du thuyền. Ra đón anh là nữ y tá Faubert. - Xin chào, bác sỹ Barker. - Xin chào. Sức khỏe ông Metcalfe thế nào rồi? - Đêm qua, ông ta ngủ rất an lành. Sáng nay ông ấy đã ăn được một chút, và bây giờ thì đang nói chuyện qua điện thoại. Bác sỹ có muốn gặp ông ấy ngay không? - Có chứ. Robin bước vào cabin hào nhoáng, đối mặt với gã đàn ông mà suốt tám tuần qua, anh liên tục tìm phương kế chống đối. Gã đang nói chuyện trên điện thoại. - Ồ, em yêu, mọi việc ổn rồi. Nhưng đó quả là một ca cấp cứu loại A1. Đừng lo, anh sẽ sống. Nói đến đây, gã dừng lại, đặt điện thoại xuống. - Bác sỹ Barker, tôi vừa nói chuyện với vợ ở Masachusetts. Tôi bảo với bà ấy rằng tôi mang ơn bác sỹ suốt đời. Bà ấy cũng cảm thấy rất may mắn. Tôi hiểu, tôi là một bệnh nhân tư, phải dùng xe cứu thương tư, và bác sỹ đã cứu sống tôi. Thực ra, đó là tất cả những gì ngươi ta viết trên tờ Nice- Matin. Trên boong tàu có treo một tấm ảnh cũ của Harvey trong chiếc quấn short Bermuda, rất giống với chiếc ảnh trong tập hồ sơ của Robin. - Bác sỹ, tôi muốn biết, - Harvey nói với vẻ hứng thú, - Tôi đã thực sự lâm vào tình trạng nguy kịch à? - Vâng, một ca cấp cứu cực kỳ nguy hiểm mà hậu quả sẽ rất nghiêm trong nếu chúng tôi không kịp thời lấy cái này ra khỏi bụng ông. – Robin rút từ túi áo ra viên sỏi mật có viết tên Harvey. Mắt Harvey trợn ngược lên như muốn bật ra khỏi tròng vì quá ngạc nhiên. - Trời, thế ra tôi vẫn đi đây đi đó với cái của nợ này trong người hay sao? Trời ơi! Tôi biết cảm ơn bác sỹ thế nào đây. Nếu có một lúc nào đó, tôi có thể giúp gì cho bác sỹ, xin bác sỹ đừng chần chừ gọi điện cho tôi. – Gã mời Robin một quả nho.- Bác sỹ, ông sẽ chăm sóc tôi cho đến khi bình phục hẳn chứ? Tôi không nghĩ là cô y tá có thể đánh giá đúng mức đọ nghiêm trọng của ca này đâu. Robin nghĩ thật nhanh. - Tôi e rằng tôi không có thời gian làm việc này, ông Metcalfe ạ. Hôm nay là ngày nghỉ cuối cùng của tôi và tôi phải trở về California. Cũng chẳng có gì nghiêm trọng lắm, chỉ là một vài cuộc phẫu thuật và một chương trình giảng dạy tương đối căng thẳng. – Anh nhún vai với vẻ bất lực, - Chẳng có gì to tát, nhưng chúng giúp tôi phải kiếm sống. Vả lại, tôi cũng quen rồi. Harvey ngồi dựng lên, tay ôm nhẹ vào bụng. - Nào, xin bác sỹ hãy nghe tôi. Tôi không quan tâm tới vài thằng sinh viên. Tôi là người bệnh, và tôi cần ngài có mặt ở đây, bên cạnh tôi, cho tới khi tôi hoàn toàn bình phục. Ngài đừng lo, tôi sẽ trả công xứng đáng. Tôi không bao giờ dè xẻn tiền nong cho việc chăm sóc sức khỏe, và nếu ngài muốn, tôi sẽ đổi séc ra tiền mặt. Điều cuối cùng mà tôi muốn là chú Sam cần phải biết tôi cũng có giá lắm chứ. Robin khẽ ho. Anh tự hỏi không biết các bác sỹ người Mỹ giải quyết vấn đề tế nhị về thù lao với bệnh nhân như thế nào. - Thù lao có thể hơi cao. Có thể sẽ lên tới 80.000 đôla cơ đấy. – Robin hít một hơi thở sâu. Harvey không hề chớp mắt. - Tất nhiên rồi. Ngài là bác sỹ giỏi nhất. Ngần ấy tiền để cứu một sinh mạng đâu phải là nhiều. - Thôi được. Tôi phải trở về khách sạn bây giờ, nhưng tôi sẽ xem xét liệu có thể sắp xếp lại chương trình không. Robin rút lui khỏi phòng của bệnh nhân. Chiếc Rolls Royce màu trắng đưa anh về khách sạn. TRong phòng 217, ba người bạn chăm chú lắng nghe câu chuyện của Robin, khi anh kế thúc, họ ngờ vực nhìn anh chằm chằm. - Stephen, thằng cha này bắt đầu mắc chứng bệnh tưởng. Hắn muốn tôi ở lại đây cho đến khi hắn bình phục. Không ai trong chúng ta dự tính điều này. Stephen lãnh đạm nói: - Cậu sẽ ở lại đây và đón lấy quả bóng đi. Tại sao chúng ta lại không thể cho hắn biết giá trị của hắn - tất nhiên là phải tính theo kiểu của riêng mình hắn. Nào, hãy cầm điện thoại lên và bảo hắn rằng ngày nào cũng vậy, cứ 11 giờ sáng là cậu có mặt kiểm tra cho hắn. Chúng tôi sẽ ra về mà không có cậu. Nhưng nhớ là đừng có sài sang quá đấy. Robin nhấc điện thoại lên. Trưa hôm đó, bốn người bạn trẻ tổ chức một bữa tiệc chia tay thịnh soạn trong phòng 217. Họ tự thưởng ình một chai Krug’64. Sau đó, ba người rời khỏi khách sạn Hotel de Paris, đi taxi đến sân bay Nice, đón chuyến bay BA 012 hồi 16 giời 10 phút tới sân bay London Heathrow. Lần này, họ cũng ngồi mỗi người một ghế cách xa nhau. Trong đầu Stephen, vang lên một câu nói trong cuộc nói chuyện giữa Robin và Harvey. - Nếu có một lúc nào đó, tôi có thể giúp ngài, xin ngài đừng chậm trễ gọi điện cho tôi. Mỗi ngày Robin tới thăm bệnh nhân một lần trên chiếc Corniche màu trắng với một tài xế mặc đồng phục trắng. Lần thăm bệnh thứ ba, y ta Faubert đề nghị được nói chuyện riêng với anh. - Bệnh nhân của tôi, - cô như chuẩn bị trước, - bắt đầu có những cử chỉ gần gũi khiếm nhã khi tôi thay quần áo cho ông ta. Robin cho phép bác sỹ Wiley Barker tự do đưa ra một nhận xét không thuộc chuyên môn. - Làm sao mà tôi có thể khiển trách ông ấy được. Tuy nhiên, tôi tin chắc là cô đã từng gặp những chuyện tương tự. - Tất nhiên, nhưng không phải với một bệnh nhân vừa được phẫu thuật cách đây ba hôm. Cơ thể ông ta hẳn phải là sắt thép. - Tôi sẽ cho cô biết cần phải làm gì. Hãy tống cái của nợ của hắn vào một cái ống, và hắn sẽ chẳng thể làm gì được nữa. – Cô mỉm cười. – Nhưng bị giam ở đây cả ngày, hẳn phải rất buồn, - Robin tiếp tục. – Mà tại sao tối nay cô lại không đến chỗ tôi nhỉ, sau khi Metcalfe đã đi ngủ, chúng ta sẽ cùng ăn tối. - Tôi cũng thích như vậy. Tôi sẽ gặp ngài ở đâu? - Phòng 217, khách sạn Hotel de Paris, - Robin nói mà không hổ thẹn. – 9 giờ tối nhé? - Vâng. - Nào Angeline, uống thêm một chút chablist nhé? - Không, cám ơn, Wiley. Đây là một bữa ăn đáng nhớ.Tôi nghĩ, có thể ngài vẫn chưa có tất cả mọi thứ ngài muốn , phải không? Cô đứng dậy, châm hai điếu thuốc , đặt một điếu vào miệng Robin. Sau đó, cô bước đi vài bước , chiếc váy dài nhẹ đung đưa bên hông. Dưới làn áo sơ mi màu hồng, cô không mặc đồ lót. Cô hít một hơi thuốc và ngắm nhìn anh. Robin nhớ tới bác sĩ Barker trong sạch giờ này đang có mặt tại Australia, nhớ tới vợ con anh ở Newbury, S áng hôm sau, thứ sáu, bốn người cùng có mặt tại phòng khám của Robin trên phố Harley. Stephen ngồi chễm trên chiếc ghế bệnh nhân , phát biểu : - Nhờ sự bình tĩnh của Robin , cuộc phẫu thuật Monte Carlo đã thành công mỹ mãn trên mọi phương diện . Tuy vậy, chi phí lần này tương đối cao. Hoá đơn thanh toán khách sạn và bệnh viện lên tới 11.351$ , trong khi chúng ta chỉ thu về 80.000$. Cho tới nay, tổng số chi phí đã là 22.530$ , vì vậy Harvey vẫn còn nợ chúng ta 494.970$. Mọi người có đồng không? Không ai phản đối. Giờ đây , họ đã tin tưởng vô biên vào khả năng tính toán số học của Stephan, mặc dầu , trên thực tế , Stephen, cũng giống như tất cả các giáo sư đại đa số khác , thấy làm việc với các con số là quá đơn điệu , nhàm chán. - Tiện thể , Robin , cậu hãy cho biết cậu đã làm cái quái gì mà ăn mo965t bữa tối hết những 73.50$. Cậu đã ăn những gì , trứng cá hồi muối và rượu champagne à? - Cũng có hơi đặc biệt ! - Robin thú nhận. - Dù không có mặt ở Monte Carlo , tôi cũng dám cá là tôi biết ai ăn tối vời cậu, và tôi còn dám đánh cá là cô nàng không chỉ chia xẻ chiếc bàn với cậu thôi đâu , - Jean-Pierre nói , lấy chiếc ví từ trong túi ra , - Stephen , đây là 219 franc tiền thắng bạc của tôi trong đêm thứ tư. Nếu cậu cứ để tôi một mình , thì chúng ta đã chẳng bị rầy rà bời tay đồ tể Robin. Tôi có thể chiến thắng và đoạt lài toàn bộ số tiền đã mất. Tôi nghĩ, ít nhất thì tôi cũng xứng đáng có số điện thoại của nữ y tá Faubert chứ. Những nhận xét của Jean- Pierre làm Stephen tỉnh táo hẳn. - Tuyệt , Jean- Pierre , như vậy chi phí sẽ giảm đi đấy. Theo như tỷ giá hối đoái ngày hôm nay thì , 219 franc của cậu - anh dừng lại một chút , tay bấm máy tính. - trị giá 46.76 $. Như vậy , tổng chi phí sẽ giảm xuống còn 22.843,24 $. Và bây giờ là kế hoạch Ascot của tôi. Đơn giản thôi. James đã kiếm được hai tấm phù hiệu để vào khu hội viên với giá 10$. Chúng ta đều biết là , giống nhu tất cả các chủ ngựa khác , Harvey Metcalfe cũng có kmo65t phù hiệu , vì vậy , nếu chúng ta tính toán thời gian chính xác , sắp xếp mọi việc thật tự nhiên , thì ắt hắn sẽ sập bẫy lần nữa. James có nhiệm vụ theo dõi mọi hoạt động của hắn kể từ khi hắn bắt đầu xuất hiện cho đến khi hắn đi khỏi khu vực hội viên và thông báo vắn tắt cho tất cả chúng ta bằng máy nhắn tin. Jean- Pierre sẽ đợi hắn bên lối vào khu vực hôi viên rồi đi vào theo hắn. Còn Robin , đúng 1 giờ chiều , cậu phải đánh đi một bức điện từ sân bay Hea-throw , chắc chắn Harvey sẽ nhận được tin trong giờ ăn trưa. Công việc rất đơn giản. Chỉ khi nào chúng ta nhử được hắn về Oxford chúng ta mới phải đề phòng. Chắc chắn là , nếu có cơn hội chiến thắng ở Ascot , tôi sẽ thay đổi kế hoạch ngay. Stephen cười toét miệng : - Như vậy chúng ta sẽ có nhiều thời gian để chuẩn bị kế hoạch đón khách ở Oxford. các cậu thắc mắc gì không? Robin thắc mắc về một câu trong tập hồ sơ nên đã đọc to lên cho tất cả cùng nghe - Tôi không cần cậu trong phần (a) của kế hoạch Oxford. Cậu chỉ xuất hiện trong phần ( b). - Đúng thế. Tôi có thể tự xoay sở phần (a). Thực ra , nếu đêm đó , các cậu cứ ở lại London thì tốt hơn. Đặc ân tiếp theo của chúng ta bậy giờ là nghĩ ra một vài ý tưởng cho James , nhưng nếu chúa che chở chúng ta , cậu ấy sẽ tự nghĩ ra một cái gì đó cho riêng mình. Tôi bắt đầu rất quan tâm đến vấn đề này , bởi vì , một khi Harvey trở về Mỹ , chúng ta sẽ phải đương đầu với hắn trên đất của hắn. Cho tới bây giờ , hắn vẫn luôn phải thi đấu ở những nơi chúng ta lựa chọn. Có thể ở Boston , James sẽ khó hành động , mặc dầu cậu ta là diễn viên giỏi nhất trong số bốn người chúng ta. nhưva656y Harvey thường nói thì đó là một trò chơi hoàn toàn khác. James thở dài với vẻ sầu thảm và dán chặt mắt vào tấm thảm Axminster. - Tội nghiệp james , cứ an tâm đi , cậu lái xe cứu thương tuyệt như tay đua chuyên nghiệp vậy - Robin nói - Có lẽ cậu nên học lái máy bay đi , chúng ta sẽ thực hiện một phi vụ không tặc. - Jean- Pierre gợi ý. Y tá Meikle không thể chịu đựng được những tiếng cười không dứt bay ra từ phòng bác sĩ Oakley , và cô thực sự vui mừng khi thấy bộ ba kỳ dị ra về. Khi james , người đi cuối cùng , vừa bước ra khỏi phòng , cô đã đóng sầm cửa , rồi quay vào phòng Robin. - Ngài có khám cho bệnh nhân không , bác sĩ Oakley? - Nếu buộc phải làm thì tôi sẽ làm Meikle mím môi. Cái quái gì đã xảy ra với ông ta thế này? Chắc chắn là tại những tay đàn ông quái đản mà ông ta mới giao thiệp gần đây. Ông ta đang đánh mất lòng tin. - Bà Wentworth Brewster. Bây giờ bác sĩ Oakley sẽ xem bệnh cho bà và tôi sẽ chuẩn bị sẵn thuốc cho chuyến đi Italia của bà. Stephen trở về trường Magdelen để nghỉ ngơi vài ngày. Tám tuần trước đây , anh là người khởi đầu toàn bộ kế hoạch, và bây giờ , hai người trong Đội đã thành công quá sức tưởng tượng của anh. Anh thấy mình cần làm một cái gì đó để nỗ lực của bạn bè anh trở thành truyền thuyết của Oxford. Jean- Pierre trở về với công việc ở phòng tranh trên phố Bond. Trách nhiệm của anh sẽ ko nặng nề lắm vì anh chỉ phải đi đánh một bức điện ngắn. Tuy vậy , để chuẩn bị kế hoạch phần (b) tại Oxford của Stephen , đêm nào anh cũng phải đứng trước gương luyện tập. James đưa Anne đi nghỉ cuối tuần tại Stratford- upon- Avon. Tại đây, họ đã tới dự đêm công diễn đầu tiên vở kịch " Chẳng có gì mà cũng làm ầm ĩ " của nhà hát Shakespear Royal. Sau đó , trong khi đi dạo bên bờ sông Avon , James đã ngỏ lời cầu hôn Anne. Chỉ những con thiên nga chung thuỷ mới biết rằng nàng tr3 lời thế nào. Chiếc nhẫn kim cương mà James mua tại cửa hàng Carrtier , cửa hàng nữ trang đối diện với phòng tranh Lamanns , trong khi chờ đợi harvey , vốn đã đẹp nay càng đẹp hơn , lấp lánh hơn trên ngón tay mảnh mai củ nàng. James cảm thấy anh là người hạnh phúc nhất thế gian. Giá mà anh nghĩ được một kế hoạch nào đó khiến cho tất cả ngạc nhiên thì anh sẽ chẳng cần gì hơn nữa. Đêm đó , anh thổ lộ điều này với Anne , và cùng cô suy nghĩ , song vẫn chẳng đạt kết quả gì... Thực ra , đã có một ý tưởng mới đang hình thành trong tâm trí Anne.

Sáng thứ hai, James lái xe đưa Anne trở về London với tâm trạng yêu đời chưa từng thấy. James rất muốn nàng đi cùng anh tới Ascot, nhưng Anne từ chốu, rằng nàng phải đi làm. Hơn thế nữa, nàng có cảm giác những người khác sẽ không chấp nhận sự có mặt của nàng, họ sẽ nghi ngờ James. James không kể cho nàng nghe chi tiết cuộc phẫu thuật ở Monte Carlo, nhưng anh lại thông báo cho nàng từng bước một trong kế hoạch Ascot. Anne có cảm giác Hames đang rất hoang mang bối rốu, vì vậy, nàng quyết định tối nay sẽ đến với anh. Có thể James sẽ cho nàng biết thêm những tin tức mới nhất . Theo nàng , james không được vững vàng lắm. Rất may là trong cuộc đua tiếp sức này, hầu như lúc nào Stephen, Ronbin và Jean – Pierre cũng chủ động giữ chặt cây gậy chuyền tay – nhưng cái ý tưởng đang dần hình thành trong nàng chắc chắn sẽ làm cho tất cả bọn họ ngạc nhiên. Stephen dậy sớm , soi gương ngắm nghía mái tóc bạc củ mình một cách thán phục. Để có nó, anh đã phải mất khá nhiều tiền và tiêu tốn cả một buổi chiều ở hiệu làm đầu Debenhams. Anh cẩn thận chọn lựa quần áo : Bộ ple màu xám trang nhã và một cái cravat kẻ ô. Anh thường mặc trang phục này trong những dịp lễ đặc biệt : Từ những buổi gặp gỡ sinh viên cho đến những buổi tiệc ở Đại sứ quán Mỹ. Cho đến nay, vẫn chưa ai nói với anh là màu sắc bộ ple và chiếc cravat không hề hoà hợp, hoặc bộ ple đã lỗi thời vì nơi khuỷu tay và ve cổ không đúng mốt. Theo tiêu chuẩn của riêng Stephen thì bộ đồ lớn này, tự bản thân nó , rất trang nhã. Từ Oxford, anh đón tàu hỏa đi Ascot, còn Jean – Pierre lại khởi hành từ London bằng xe hơi. Họ ẽ cùng gặp James ở Belvedere Arms vào lúc 11 giờ sáng, ( sau khi đã đi chùng một dặm). Ngay lập tức, Stephen gọi cho Robin để khẳng định rằng cả ba người đã tới đích và yêu cầu được nghe nội dung bức điện Ronbin sẽ gửi đi. - Thật hoàn hảo, Robin. Bây giờ, cậu hãy tời Heathrow, và chờ đến đúng 1 giờ thì gửi nó đi - Chúc may mắn, Stephen. Hãy nghiền thằng con hoang này ra tro bụi. Stephen quay lại chỗ Jean – Pierre và James, thông báo với họ là tại London, Robin đã sẵn sàng. - James , hãy lên đường. Khi nào Harvey tời , phải báo ngay cho chúng tôi. James tu cạn một chai Carlsbers rồi mới xuất phát. Thật rắc rối vì anh liên tục gặp bạn bè, khó khăn lắm anh mới tìm đủ lý do để không phải nhập bọn cùng họ. Đầu giờ chiều, Harvey matcalfe xuất hiện trong khu đỗ xe của hội viên, chiếc rolls Royce màu trắng bóng loáng như một bảng quảng cáo Persil. Ngay lập tức, tất cả những ai có mặt đều nhìn chằm chằm vào chiếc xe với vẻ coi thường khinh khỉnh, Nhưng harvey lại tưởng nhầm là họ thán phục gã. Bộ ple mới may của gã quả là sự thử thách , kiểm nghiệm hữu hiệu nhất cho tài năng và sự khéo léo của Bernard Weatherill. Một bông cẩm chướng đỏ bên ve áo và chiếc mũ che đi cái đầu hói – trông gã lạ lẫm tới mức suýt nữa James đã không nhận ra, may nhờ có chiếc Rolls Royce màu trắng. Với một khoảng cách cố định, Hames theo sau harvey và bạn bè gã cho đến khi nhìn thấy cả bọn khúât sau một cánh cửa có đề : Ngài Harvey và khách. - Hắn vào lô riêng rồi, - james nói - Cậu đang ở đâu? - Jean – Pierre hỏi. - Ngay trên đầu hắn, trên lô đất của một người đánh cá ngựa tên là Sam O’Flaherty. - Jame, không nhất thiết phải thổ lộ như vậy với người Ailen, - Jean – Pierre nói. – Bọn mình sẽ đến chỗ cậu ngay đây.

James nhìn không chớp mắt vào khu khán đài rộng mênh mông màu trắng, có sức chứa 10.000 khán giả. Một lần nữa, anh lại thấy khó có thể tập trung vào công việc vì phải tìm cách né tránh bạn bè, họ hàng. Đầu tiên là nhà quý tộc Halifax, sau đó là một cô gái khó chịu mà mùa xuân năm ngoái, do thiếu suy nghĩ, anh đã đưa tới dự buổi tiệc khiêu vũ do Nữ hoàng Charlotte tổ chức. Tên Cô ta là cái quái gì nhỉ? À, đúng rồi. Quí cô Selina Wallop. Một cái tên rất tương xứng với con người. Cô nàng mặc chiếc váy ngắn, có lẽ đã lỗi thời từ bốn năm nay, đầu đội một chiếc mũ hình như sẽ không bao giờ là mốt. Để không phải tiếp chuyện cô, james chụp chiếc mũ nỉ lên đầu, nhìn sang hướng khác, giết thời giờ bằng cách tán ngẫu với Sam O’ Flaherty về cuộc đua Vua George VI và Nữ hoàng Elizabeth Stakes. Bằng một giọng cao chói tai, O’ Flaherty thông báo về lợi thế của con ngựa được ưa chuộng nhất và số tiền cá cược mà người ta đặt cho nó : - Con Rosalie thuộc về một người Mỹ có tên là Harvey Metcalfe. Pat Eddery sẽ cưỡi con này. Tiền đặt cược mới đây nhất của nó là 6 trên 4. Nhiều người cho rằng Eddery sẽ là quán quân đua ngựa trẻ nhất trong lịch sử và Harvey sẽ là người chiến thắng cuộc đua này. Stephen và Jean – Pierre đến bên James, và cùng đứng gần quầy của Sam O’ Flaherty. Ông ta đứng trên cái bục àu da cam đang vung hai tay như thể hoa tiêu trên một chiếc tàu sắp chìm. - Các ngàu chọn con nào, các quý ngàu trẻ tuổi? - Sam hỏi ba người.

 
Loading...

Đọc Tiếp Chương 14

Tới Chương nhanh

Bạn Đang đọc Không hơn một xu không kém một xu Chương 13