Cán gươm bị giấu

Charlie giơ nắm tay lem luốc bồ hóng lên dụi mắt. Nó ngước nhìn những thanh xà rực sáng ánh lửa lò, mong ngóng thấy đốm sáng nhỏ xíu là con bướm của mình. Khẩn thiết hy vọng nó đã theo mình tới đây.

Lũ người đá hình như không thấy nó. Chúng đang bận hủy diệt ông Feromel quả cảm. Bị áp đảo về số lượng và sức mạnh, người thợ rèn quyết không đầu hàng cho tới lúc mọi tia lửa của sự sống trong ông tắt lịm. Chứng kiến cảnh trừng phạt man rợ mà ông Feromel phải chịu, Charlie phi thân vào gã đàn ông đá, gã chỉ huơ một cánh tay bành ki là gạt Charlie văng bay qua căn phòng. Nó lụi hụi đứng dậy và húc vào chân con mụ đá, nhưng vô ích, khác nào cố húc đổ một thân cây.

Bức tượng thần lùn chĩa ánh mắt trơ đá, hung tợn vào Charlie. Hắn xoay người một phát, ngáng cẳng Charlie từ phía dưới. Charlie hổng giò ngã ụp xuống đất lần nữa, và, khi nó nhắm mắt lại đau đớn, một luồng sáng phụt qua tầm mắt nó. Khoảng khắc tiếp theo, nó trôi lềnh bềnh.

“Charlie! Charlie!” những tiếng gọi từ xa trôi dần đến.

“Nó đang chu du phải không? Đáng lẽ nó không nên nhìn vô cái ấm đó.” Giọng này om xòm và cáu kỉnh.

“Cháu nghĩ nó đang ra khỏi đó kìa.”

Charlie thấy mình nhìn xuống một vòng nước đen như mực. Từ từ, nó ngóc cái đầu đau như búa bổ lên. Khắp xung quanh nó, hàng hà ấp đun nước nhấp nha nhấp nháy. Ánh sáng từ chúng tỏa ra chói đến độ Charlie phải nhắm tịt mắt lại để tránh bị lóa.

“Ngồi xuống, cậu bé.”

Charlie được dìu tới một cái ghế, và nó vô cùng cảm kích đặt thân mình nhức nhối của mình xuống. Một gương mặt to, bong nhẫy mồ hôi, dí sát vào mặt nó.

“Cưng làm thế để làm gì, hả?” bà Kettle hỏi. “Làm chúng tôi sợ một mẻ bạt vía.”

“Xin lỗi,” Charlie lung búng. “Nó tự nhiên xảy ra. Ông ấy cần cháu, nhưng vô ích rồi. Cháu không thể giúp được gì.”

Tancred trao cho Charlie một ly nước. “Em đi lâu đến mấy thế kỷ luôn đó, Charlie. Đông cứng tại chỗ. Không dấu hiệu sự sống. Anh với bà Kettle không sao dịch chuyển em được.”

Charlie hớp mấy ngụm lớn thứ nước lạnh dễ chịu. “Ở trong đó nóng dễ sợ,” nó láp ngáp.

“Ở đâu, cưng? Cưng đã đi đâu?” Gương mặt lớn của bà Kettle dời đi khi bà ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh ghế của Charlie.

Hít một hơi thật sâu, Charlie nói, “Thật ra, cháu nghĩ mình đã ở ngay tại đây, có cả ông Feromel nữa.”

“Feromel?” bà Kettle bất giác chắp tay vào nhau. “Cưng đã gặp ngài?”

Charlie liếc nhìn gương mặt hoan hỉ của bà. “Xin lỗi, bà Kettle. Cháu đã cố, nhưng vô ích. Cháu không thể giúp được ông ấy. Cháu đã chứng kiến cảnh ông ấy chết. Gã đàn ông đá đã giết ông ấy. Sự thực mà chúng ta biết là như vậy.”

“Chao!” Tancred lẳng lặng thốt lên.

Một quãng im lặng kéo dài trong khi Charlie đấu tranh tự vấn lương tâm, không chắc có nên kể cho bà Kettle nghe về cái cán gươm vàng đó hay không. Bà là hậu duệ của ông Feromel, đường đường chính chính, bà phải biết về sự tồn tại của nó, nhưng Charlie vẫn lấn cấn nghĩ Hiệp Sĩ Đỏ chưa chắn đã là bạn.

“Đừng lộ mặt thoái chí thế, cưng.” Bà Kettle cầm bàn tay Charlie, vỗ vỗ. “Chắc chắn cưng không thể xoay chuyển được đâu. Hột xúc xắc đã đổ ra. Bọn đê tiện đã ra tay khi đầu óc cưng chìm vô trong cái ấm kia. Bà vốn luôn thắc mắc về nó mãi.” Charlie nhìn theo ánh mắt bà tới cái ấm to đùng, đặt trên bàn. “Đôi khi bà nghe thấy có tiếng lục đục, rồi có những khi bà thề là bà thấy ánh lửa nháng lên khỏi mặt nước đen của nó. Bà luôn tin rằng cái ấm cổ đó phản chiếu kết cục bi thảm của tổ tiên mình. Nhưng tại sao? Bà thường tự hỏi. Mục đích của việc ngài lưu lại ngày cuối cùng của mình trên đời này là gì?”

Charlie không thể giấu diếm sự thật lâu hơn được nữa. “Bởi vì ông ấy giấu một vật, bà Kettle ạ, và có lẽ ông ấy hy vọng, một người chu du nào đó, giống như cháu sẽ trở lại và thấy chỗ ông ấy giấu nó.”

“Giấu cái gì, Charlie?” Tancred hỏi.

Charlie nhìn từ Tancred qua bà Kettle. “Một cán gươm. Ông ấy bảo nó do chính tay Vua Đỏ trang trí.”

“Cái gì!” bà Kettle nhảy bắn khỏi ghế. “Nó ở đâu, Charlie? Ông Feromel đã giấu nó ở đâu?”

“Trong ống khói.”

“Ống khói?” người thợ rèn hét lên, chạy tới cánh cửa kim loại. “Thế thì ở trong lò sưởi. Bà phải dập tắt lửa đi mới được.”

“Không, không,” Charlie nói. “Không phải trong lò sưởi. Nó chỉ có một chút lửa ông ấy nhóm trong căn phòng.”

“Có một ống khói kìa,” Tancred chỉ mảng tường bao ống khói ở đằng sau một lò sưởi lớn bằng sắt.

Charlie lắc đầu. “Nó ở gần mặt đất, vì vậy nó phải thấp hơn nóc lò sưởi.”

Tancred nghi hoặc nhìn cái lò sưởi trông kiên cố. “Nó phải nặng đến cả tấn.”

Bà Kettle không hề bác bỏ điều đó. “Đi nào, mấy cưng, giúp bà một tay.” Bà bước tới lò sưởi và bắt đầu giật nó ra khỏi bức tường.

Hai thằng bé không còn cách nào khác, phải xấn tới giúp bà. Hên là lò sưởi chưa đỏ lửa, trong khi Charlie lôi từ phía mặt sàn, Tancred giật ở bên trên Charlie, và bà Kettle kéo ở trên đỉnh. Từ từ một bên lò sưởi dềnh dàng bắt đầu dịch chuyển khỏi tường. khi nó tách ra một lỗ hổng chừng nửa mét, bà Kettle la lớn. “Dừng lại, mấy cưng. Bà có thể nhìn vô trong ống khói được rồi.”

Charlie ghé mắt dòm vô trong lò sưởi. “Một cái lỗ rất nhỏ,” nó nhận xét.

“Thế thì chúng ta sẽ cho nó to hơn.” Bà Kettle đi huỳnh huỵch qua cánh cửa sắt vô xưởng rèn và quay trở lại hầu như ngay tức khắc, lấy ra một cái búa thật lớn. Ép mình vô giữa bức tường và lò sưởi, bà đẩy một phát cực mạnh bằng cặp mông to lớn của mình. Lò sưởi lùi lại ít nhất một mét nữa, cho bà thợ rèn đủ chỗ để quai búa vào bức tường đáy ống khói.

Rắc! Chỉ một búa là đủ đập vỡ những viên gạch trên ống khói. Bị bao bọc trong đám bụi đen, bà Kettle dộng thêm một nhát nữa. Với nhát thứ ba, một đống gạch văng khỏi đáy ống khói, vùi bà Kettle tới tận đầu gối.

“Aa-ha!” người thợ rèn reo lên chiến thắng. “Charlie, đến lượt cưng đó. Cưng coi ngài Feromel đã cất vật báu đó ở đâu.”

Dùng chân hất đống gạch vỡ ra để lấy đường đi, bà dịch tới phía sau lò sưởi và chỉ cái lỗ lớn mình vừa đập ra. “Cưng nghĩ sao?”

Charlie không biết phải nghĩ gì. Nó cố tưởng tượng căn phòng tối nơi nó đã giúp ông Feromel giấu cán gươm. Liệu cái này có đúng là ống khói đó?

“Tìm đi, Charlie!” Sự nhiệt tình của Tancred thổi tung những đám bụi lên không, khiến Charlie bật ho.

“Bình tĩnh, Tancred!” bà Kettle trách cứ. “Này, Charlie đeo cái này vô.” Bà trao cho nó một đôi bao tay quá khổ.

Charlie cẩn thận đeo chúng vào. Chuyển động của nó chậm chạp và lưỡng lự, bởi vì đầu óc nó đầy ắp mối hồ nghi. Có lẽ một vật quý như vậy không bao giờ được tìm thấy, nhất là bởi một đứa như nó, cái thằng không bao giờ tỏ ra xứng đáng được chạm vào vật sở hữu của nhà vua vĩ đại.

“Cái gì níu cưng lại vậy, Charlie?” bà Kettle dịu dàng hỏi.

“Bao tay này quá rộng,” nó giả vờ.

“Thế thì tháo nó ra. Hôm nay không có lửa trong ống khói.” Bà Kettle bật cười, Tancred cũng cười theo. Tiếng cười của họ dường như lạc điệu với tình huống tôn nghiêm này.

Charlie tháo chiếc găng tay phải ra và đặt xuống nóc lò sưởi. Nó dạng chân gạt vài mẩu gạch qua bên, rồi quỳ gối xuống trước cái lỗ rộng trong đáy ống khói. Nó có thể thấy gạch ở đằng sau, trét dính lại bằng nhựa đường và bồ hóng. Nó chồm tới trước và rà bàn tay đeo găng khắp bề mặt bức tường. Có một viên gạch hơi lục sục bên dưới ngón tay nó. Charlie nghĩ bụng mình đã không nhìn thấy. Nó đang nghĩ về tấm áo choàng bị mất cắp. Nếu Hiệp Sĩ Đỏ là kẻ trộm, thì liệu ông ta có xứng được trao cho thanh gươm thần?

“Cháu không chắc phòng này đúng hay không,” nó nói.

“Chắc chắn mà. Ngài Feromel đã sống ở đây. Ngôi nhà này hầu như không thay đổi.” Bà Kettle nhìn Charlie thật lâu, thật xoáy. “Cưng có chắc không, cưng? Thử lần nữa coi.”

Một lần nữa Charlie rà bàn tay quanh tường. Viên gạch lỏng tao ra một tiếng lích nhẹ, gai người, nhưng Charlie không nghe thấy.

“Cái gì đó?” Tancred la lớn. “Anh nghe có tiếng gì.” Cậu quỳ gối xuống bên cạnh Charlie. “Nghe như cái gì đang lỏng ra.”

“Chỉ là vôi vữa thôi,” Charlie phản đối.

Tancred không chịu. Thò hẳn đầu và vai vô bên trong ống khói, anh sờ soạng mảng tường bằng cả hai tay. “Đây rồi!” Anh nhấc viên gạch lỏng và đem nó ra ngoài ánh sáng.

“Chà!” bà Kettle ập hai bàn tay to lớn vào má mình. “Bà không tin nổi. Có gì trong đó, Charlie? Đằng sau viên gạch có gì? Mau lên, MÒ xem sao, cưng.”

Charlie thò tay phải vô trong cái hốc. Những ngón tay nó rờ trúng mặt trên của một vật cứng bọc vải. Mất một tích tắc chần chừ, nó chầm chậm lôi cái bọc ra khỏi bức tường. Bên dưới lớp bụi dày, miếng vải đỏ phai màu lộ ra. Charlie thấy mình không thể thở nổi. âm thanh duy nhất trong căn phòng hình như là tiếng tim nó đập hối hả. Nó trao cái bọc cho bà Kettle.

“Ôi, Charlie!” bà thở dốc. “Bà có nên nhận?”

“Dĩ nhiên,” Tancred nôn nao. “Mở tấm vải ra. Chúng ta hãy xem đi.”

Phải một lúc, bà Kettle xúc động đến nỗi không nhúc nhích được. Bà nhìn một cách tôn kính cái bọc vải đầy bụi, rồi thận trọng mở nó ra.

Trong ánh sáng của phòng đựng ấm, cái cán gươm trông thậm chí còn lộng lẫy hơn Charlie nhớ. Choáng sốc đến không thốt nên lời, cả ba người nhìn ánh vàng rực rỡ, những con chim tinh xảo và những con báo cẩn saphia.

“Đó là vật đẹp nhất cháu thấy trong đời mình,” Tancred trầm trồ.

“Không chỉ đẹp, mà còn bất khả chiến bại,” bà Kettle nói. Hạ thấp giọng đến nỗi hầu như bọn trẻ không nghe được, bà thêm, “và có phép màu.”

“Nhỡ nó không khớp với thanh gươm của bà thì sao?” Tancred hỏi, đôi khi cậu lại thực tế một cách đáng ngạc nhiên.

Bà Kettle quay ngoắt đôi vai rộng của bà và ra lệnh. “Theo bà!”

Hai thằng bám sát gót bà qua cánh cửa kim loại, vô căn phòng mà bà gọi là xưởng rèn. Có một hộp kim loại dài nằm dài trên cái bàn thô. Bà Kettle mở nắp hộp lên và họ ngắm nhìn thanh gươm sáng chói. Ngay cả khi chưa hoàn tất, nó cũng khiến một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng Charlie – trông nó thật nguy hiểm.

Mũi gươm thon dần thành một đầu nhọn phản trắc, nhưng phần chuôi gươm thừa ra một dải kim loại dài chừng mười lăm xăng-ti-mét.

“Không có tay cầm,” Tancred nhận xét. “Ý cháu nói là nó không có cán.”

Một lần nữa, bà Kettle mở cái gói bụi bặm ra. Bà kính cẩn nhìn cán gươm hoàn mỹ và rồi, rất thận trọng, nâng nó lên sát mặt. Ngó xuống phía dưới hai con báo có cánh, bà vui mừng thốt lên, “Đây rồi!” và quay phần đầu cán gươm về phía bọn con trai.

Chúng thấy một khoảng đen ở giữa – một rãnh hẹp được làm để tra cái gì như là phần đuôi của một thanh gươm vào.

“Charlie,” bà Kettle nói, “nhấc thanh gươm lên.”

Charlie chùi hai bàn tay dính bồ hóng vô quần và nhẹ nhàng nâng dải kim loại mỏng ở chuôi thanh gươm lên.

“Tốt, giữ chắc lấy,” bà Kettle ra lệnh.

Bà mỉm cười với chúng, nhưng Charlie có thể thấy là bà rất hồi hộp, không dám tin chắc cán gươm có thể tra vừa thanh gươm. “Cao lên, Charlie,” bà nói, giọng bà hơi run.

Charlie nâng thanh gươm lên thêm vài xăng-ti-mét nữa, và bà Kettle từ từ tra cán gươm dải kim loại. Nó lách vô khe êm đến nỗi dường như có một lực hấp dẫn kéo cánh của những con báo trôi xuống lưỡi gươm sáng loáng.

“Được làm để khớp nhau,” Tancred thở hắt ra.

Hầu như đồng thời với lời cậu nói, một cơn gió mạnh lùa qua sàn xưởng rèn cùng với một tiếng thở phào phụt ra từ đâu đó sâu trong những bức tường cổ xưa.

Charlie nhìn Tancred.

“Không phải anh,” Tancred nói, lo lắng nhìn quanh phòng.

“Đó là ngài Feromel,” bà Kettle bảo, một dòng nước mắt ngấn ướt mắt bà. “Cảm ơn, Charlie. Ngài đã yên lòng rồi.” Bà đặt thanh gươm giờ đã hoàn chỉnh vô hộp của nó và đóng nắp lại.

“Cháu có làm gì đâu, thật mà” Charlie nói, hơi bối rối. “Nó cứ thế xảy ra thôi.”

“Cưng đã làm nhiều lắm rồi, giờ cưng phải co giò chạy thôi,” bà liếc nhìn ra cửa sổ. “Trời tối rồi kìa, có lẽ chúng đã đến rồi.”

“Ai cơ?” Tancred hỏi, thấp thỏm nhấc vai lên.

“Manfred và đồng bọn, dù chúng là cái gì hay là bất cứ ai.” Mặt bà Kettle nghiêm lại khi bà dẫn hai thằng trở lại biển ấm đun nước. Và khi Tancred và Charlie bước ra ngoài trời xẩm tối, một tiếng thì thào trầm trầm rót vào tai chúng qua cánh cửa đang đóng lại. “Đừng làm gì ngu ngốc cho đến chừng nào Hiệp Sĩ Đỏ có thanh gươm của ngài.”

“Làm sao tụi mình biết được điều đó?” Tancred hỏi khi chúng chạy hối hả trên con đường thắp sáng qua loa.

“Có lẽ bà ấy sẽ có thông điệp nhắn cho tụi mình biết.”

Cả hai tăng tốc. Chúng cảm thấy nhiều con mắt đang dòm mình qua những khe cửa sổ tối hù. Nhưng khi chúng đi qua tiệm bán cá, Tancred lại dừng bước và ngước nhìn cửa sổ phía trên tấm biển. “Dagbert không có ở đó,” cậu nói. “Anh không ngửi thấy mùi cá.”

Charlie bước tiếp tới tiệm Đá. Nó nheo mắt nhìn vô những bóng người bên kia cửa sổ. Người đàn ông đá ở đó: đúng y cái gã đã hùng hổ xông vô nhà ông Feromel và nghiền sự sống ra khỏi ông. Charlie lùi sựng lại trước ánh nhìn trơ tráo của những con mắt đá thồi lồi. “Tụi mình ra khỏi đây lẹ lên,” nó nói khàn khàn.

“Đi mau,” Tancred nói, chạy tới Charlie và rồi vượt qua nó.

Khi chúng đi hết đường Piminy, Charlie quyết định ghé tiệm sách cô Ingledew. Nơi này gần hơn đường Filbert và, nếu may mắn, sẽ gặp Ông cậu Paton ở đó.

Tancred lẩn vô bóng tối, gọi to. “Gặp em ngày mai, Charlie.”

Charlie cười một mình. Nó vui vẻ phóng quẹo vô ngõ Nhà Thờ Lớn. Có đèn còn sáng bên trong tiệm. Charlie gõ cửa và hai giây sau, Emma mở cửa.

“Bồ đã ở đâu vậy?” con nhỏ hỏi. “Ông cậu của bồ ở đây.”

Charlie lao vù vô tiệm. Thật dễ chịu khi được bao quanh bởi ánh sáng dịu và những quyển sách màu nhẹ, được đắm mình vào bầu không khí đầm ấm, và được thấy Ông cậu Paton trầm ngâm ngó ra phía trên cặp kính nửa vầng trăng.

“Con có rất nhiều chuyện để kể cho ông nghe,” Charlie nói.
Loading...

Đọc Tiếp Chương 20

Tới Chương nhanh

Bạn Đang đọc Charlie Bone và sói hoang (Tập 6) Chương 19