SỰ THẬT CHOÁNG VÁNG

Âm thanh duy nhất trong phòng phát ra từ tiếng những bước chân bắt đầu từ gần cửa ra vào. Đanh và nhẹ, những âm thanh từ một phụ nữ mang giày cao gót chót vót.

Charlie sửng sốt, nó bắt đầu cảm thấy buồn nôn. Mặt Billy, trong bóng tối, trông xám ngoét lại sợ hãi. Đến điều này mà xảy ra được thì bất kỳ điều gì cũng có thể xảy ra.

Tiếng những bước chân tiến tới cái bục, và tiến sĩ Bloor mãi cuối cùng cũng mở miệng lại được, “Cô Chrystal, làm ơn bước lên đây và nói cho chúng tôi tất cả những gì đã xảy ra nào.”

“Cám ơn,” bốn tiếng bước chân nhẹ nhàng đi tới cái bàn trên cao.

“Ai đó cho cô ta ngồi với nào,” lão Ezekiel nói.

“Tôi thích đứng hơn,” cô Chrystal đáp.

“Cô sẽ kể cho chúng tôi nghe câu chuyện của… của cô chứ, cô thân mến,” tiến sĩ Bloor hỏi, “và cô đã giải phóng ngài bá tước như thế nào? Chúng tôi tất cả đều đang nôn nóng muốn biết chi tiết đây.”

Giật tỉnh khỏi cơn chết lặng, khán thính giả thét lên đồng ý.

“Đương nhiên rồi,” giọng cô Chrystal vẫn nhẹ nhàng và du dương, nhưng đã mất đi tất cả sự dịu ngọt. Giờ đây chỉ còn cái lạnh tanh đằng sau mỗi lời cô ta nói – một giọng nói vừa dễ vỡ vừa bạo liệt khiến Charlie rùng mình.

“Cách đây mười bốn năm, tôi là một cô gái hạnh phúc nhất trần đời. Tôi đang yêu và tôi nghĩ người đàn ông mình yêu cũng đáp lại những cảm xúc của mình. Nhưng anh ta đã chối bỏ tôi mà cưới một người khác. Trái tim tôi tan vỡ. Tôi tưởng mình sẽ chết chắc. Cuối cùng, tôi lấy một người tên là Matthew Tilpin. Chúng tôi có một đứa con trai, Joshua.”

Đến đây Charlie suýt bật kêu. Billy cẩn thận ụp một bàn tay vào cái miệng há ra của Charlie.

“Không lâu sau khi Joshua ra đời,” cô Chrystal tiếp, “chồng tôi đã bỏ rơi mẹ con tôi. Anh ta bảo anh ta sợ đứa con của chúng tôi. Mọi thứ đều dính hút vào Joshua, quý vị biết đấy. Đất, bụi, lông chim, côn trùng, mẩu giấy, và hễ ta chạm vào đôi bàn tay nhỏ xíu của thằng bé thì chúng sẽ níu chặt lấy. Thật khó mà rút ra được. Matthew bảo rằng nếu anh ta mà ở lại thì một ngày nào đó đứa bé sẽ bắt anh ta phải làm điều gì đó rất khủng khiếp. Anh ta đã cảm thấy Joshua đang bẻ cong ý chí của mình.”

“Mẹ tôi vẫn luôn bảo rằng chúng tôi là hậu duệ của Vua Đỏ,” cô Chrystal tiếp tục, “và tôi cũng đã thực hiện thành công một số phép thuật ngay từ hồi còn nhỏ. Nhưng phép phiếc chả được tích sự gì trong những việc dính tới trái tim, vì vậy tôi thà vứt bỏ nó đi còn hơn. Và rồi, vào Giáng sinh năm ngoái, ông chú của tôi chết, để lại cho tôi một rương đầy ụ giấy tờ. Một số đã được cất giữ trong gia đình tôi suốt chín trăm năm. Rất nhiều cái không thể nào đọc được, nhưng rồi tôi đã khám phá rằng chúng tôi là con cháu của chính Lilith, con gái cả của Vua Đỏ, và chồng bà, bá tước Harken Badlock.

Tất cả một trăm vị hiệu trưởng nhất tề thốt lên kinh ngạc, nhưng cô Chrystal vẫn phăm phăm, hầu như không thở lấy hơi. “Trong số những giấy tờ đó có một tấm bản đồ, trong tình trạng còn nguyên vẹn, nhưng rất, rất nhỏ. Quý vị không thể tin nổi nó… à… nó nhỏ thế nào đâu. Chắc hẳn nó đã bị người ta bỏ qua, không được chú ý đến suốt nhiều thế hệ. Tôi chịu, không biết là ai đã vẽ nó – có lẽ chính bá tước cũng nên. Tôi phải hỏi ngài mới được, “cô ta bật cười nhẹ. “Bản đồ chỉ cho tôi biết nơi tôi có thể tìm thấy gương thần của Amoret. Đó là tấm gương có thể đưa ngài bá tước trở lại thế giới này. Tôi chỉ việc đem nó tới đứng trước bức chân dung Vua Đỏ, để cho ánh sáng phản chiếu xuống cái bóng đằng sau ngài và,” cô ta dừng lại, “và tôi đã làm đúng như thế – và nó đã linh nghiệm. Ngài bá tước đã trở lại!” Khi nói những lời cuối cùng đó, giọng cô Chrystal vỡ vụn ra bởi niềm phấn khích ngây ngất.

“Cho một ly nước,” tiến sĩ Bloor phán.

“Ghế đây,” ai đó đẩy một cái ghế qua sàn nhà.

Tiếng chuyện trò rôm rả chợt bùng lên trong đám khách khứa. Nếu Charlie và Billy muốn chuyển đổi vị trí của chúng thì hẳn lúc này đúng là thời điểm để xê dịch, nhưng Charlie điếng người đến nỗi chẳng cựa quậy gì được.

Cô Chrystal vẫn chưa xong bài nói với thính giả của mình. “Tôi còn một điều nữa cần nói,” cô ta thông báo. “Con trai tôi, Joshua, rất hùng mạnh. Giống như Charlie Bone, nó mang dòng máu của hai thầy pháp chạy trong huyết quản. Nếu cần khống chế Charlie thì chính Joshua sẽ có thể làm được điều đó. Còn về vấn đề cha của Charlie, ngài bá tước cam đoan rằng hắn sẽ không bao giờ trở lại được nữa.” Cô ta buông ra một tiếng cười khô khốc, “Vâng, đúng vậy, bá tước đảm bảo Lyell Bone sẽ biệt tăm, biệt tích, mất dạng mãi mãi.”

Sau một quãng im lặng ngắn, một giọng phía trên đầu Charlie hỏi, “Thưa cô Chrystal, tôi muốn hỏi cô một câu.” Charlie có cảm giác như giọng nói này là của người đàn ông đội khăn xếp. “Làm ơn cho tôi biết tên của người đàn ông đã từ chối cô?”

“Ông nghĩ đó là ai chứ?” Cô ta lạnh lùng. “Đó là Lyell Bone.”

Charlie giật nảy mình đến nỗi Billy phải túm lấy cánh tay nó.

“Tụi mình phải ra khỏi đây mau,” Charlie thì thào.

Giờ thì sảnh ăn tối huyên náo như ong vỡ tổ, cú bò chối chết ra đến cuối bàn của hai thằng con trai không bị phát giác. Những chiếc ghế bắt đầu rít lên. Người ta đứng dậy và di chuyển. Những chiếc xe đẩy lại tiến vào và hai đứa nó có thể nghe thấy tiếng tách sứ kêu lạch cạch.

“Còn cà phê nữa, tất cả mọi người!” Tiến sĩ Bloor hét lớn. “Xin mời uống cà phê và bánh tráng miệng Thổ Nhĩ Kỳ. Làm ơn ngồi xuống ghế của quý vị thêm vài phút nữa.”

“Làm sao tụi mình ra khỏi đây bây giờ?” Billy lầm thầm.

Charlie nhún vai vô vọng. Những cửa ra vào cách xa các dãy bàn ít nhất phải hai mét. Cho dù chúng có bò thì thể nào cũng có người sẽ tình cờ thấy chúng. Nó nảy ra một ý. Hy vọng những người phục vụ sẽ đẩy xe đến đằng cuối bàn; nó chờ, ngay ngoài tầm duỗi của cặp chân cuối cùng.

Hai chiếc xe đẩy lăn đến gần, mỗi chiếc kè một bên bàn. Vận hết sức có thể, Charlie “diễn kịch câm” điệu bộ bò lên tầng thấp nhất của xe đẩy. Billy hiểu ra và gật đầu.

Cuối cùng hai người phục vụ đã ra đến đầu mút cái bàn. Nhìn lần cuối vào gương mặt lo âu của Billy, Charlie cười động viên thằng bé rồi bò xuống dưới tấm khăn màu đỏ phủ trùm một trong những chiếc xe đẩy. Kệ thấp lúc này trống trơn và anh bồi đang mải lo phục vụ cà phê. Nằm rúc còng queo trên kệ, Charlie nhận thấy tấm khăn trải đỏ không trùm kín được mình. Thầm khấn trong lòng, nó vẫn nằm im re trong khi chiếc xe đẩy lăn chậm rãi đến đầu đằng kia phòng dạ tiệc. Ngay khi họ an toàn đi qua cánh cửa xoay, người phục vụ dừng lại và bắt đầu cằn nhằn, “Cái khỉ…?” Anh ta nhìn xuống tấm vải và thấy Charlie.

“Í ồ, một thằng nhóc!” Anh bồi ồ lên, đó là một thanh niên trẻ có gương mặt hơi nhọn. “Nhóc làm gì ở đây vậy?”

“Em bị cấm túc, và em chán quá,” Charlie nói, hy vọng anh này là người biết thông cảm.

Anh thanh niên cười to. “(Anh thấy nhóc không chán mới lạ). Nào, cảm phiền ra khỏi xe đẩy của anh đi? Lưng anh đây rệu rã vì bao thứ ác mộng rồi.”

“Anh làm ơn đưa em đi xa xa một chút đi,” Charlie năn nỉ, “chỉ qua khỏi khu nhà bếp thôi mà.”

“Giỡn hả nhóc. Anh mày đã làm việc suốt từ sáu giờ sáng đến giờ.”

“Thế thì qua khỏi nhà bếp xanh lá cây cũng được ạ,” Charlie nài thêm. “Em không muốn bị bà Weedon bắt.”

“A, hiểu rồi. Thôi được, bám chắc vào.”

Charlie nghiến chặt răng khi họ đi ngang qua lãnh địa của mụ Weedon. Nó có thể thấy phần dưới thân hình to bạnh của mụ, đi lạch phạch giữa một đám mây hơi nước bên những bồn rửa rộng mênh mông. Và rồi họ tới dãy tiếp theo của khu nhà bếp, đằng sau căn-tin khoa kịch. Người phục vụ lái Charlie qua căn-tin và vào hành lang.

“Nào, biến đi,” anh bồi đuổi, “kẻo không anh cũng gặp rầy rà chung với nhóc đấy.”

Charlie lăn ra khỏi chiếc xe đẩy, rối rít cảm ơn anh bồi. “Em có một người bạn đang…” nó vừa mở miệng thì anh bồi đã đi mất rồi.

Hy vọng Billy cũng rơi vào tay một người biết cảm thông. Charlie vọt lẹ lên những bậc thang phía sau và đi dọc theo các hành lang tối mịt mù cho tới khi về đến phòng ngủ chung của mình.

Billy không xuất hiện. Charlie chờ, chờ mãi. Chuông nhà thờ lớn điểm mười hồi. Đã nghe thấy tiếng những vị khách ra về từ mảnh sân gạch. Có gì bất trắc xảy ra với Billy chăng? Charlie nhần nhần móng tay lo âu. Nếu Billy mà bị bắt thì liệu nó có khai với gia đình Bloor rằng Charlie cũng đã cùng đi với nó không?

Khi đồng hồ đánh mười một tiếng, Charlie vun quần áo của mình thành một đống hình người và đẩy xuống dưới tấm vải trải giường của Billy. Vài phút sau, bà giám thị ngó vào. Charlie nhắm mắt lại và nằm im thít. Bà giám thị bỏ đi.

Charlie không sao ngủ được. Nó đi ra cửa sổ và nhìn xuống mảnh sân gạch. Không đèn đóm gì ở mấy khung cửa sổ chái phía tây. Toàn bộ toà nhà chìm trong bóng tối. Charlie vừa quyết định đi tìm Billy thì một thân hình nhỏ thó mò vô.

“Billy, nãy giờ em ở đâu vậy?” Charlie la lên.

“Em bị nhốt trong một buồng kho,” Billy mệt mỏi nói.

“Sao lại vậy?”

“Anh bồi đẩy chiếc xe của em vào một chỗ giống như cái tủ rồi khoá cửa lại.” Khi Billy đi qua căn phòng tối thui, mặt nó thình lình được chiếu sáng từ dưới lên bởi một đóm sáng run rẩy, nhỏ xíu. Charlie thấy thằng bé đang cầm một cây nến mỏng manh, rõ ràng là tự phát sáng.

“Rồi sao nữa? Chuyện thế nào hả?” Charlie hỏi.

Lần tới giường mình rồi, Billy thổi phù ngọn nến và chui xuống chăn, đồng thời ném đụn quần áo ra ngoài. “Lừa khéo ghê,” nó chép miệng kèm theo một cái ngáp.

“Billy, anh đang tỉnh như sáo đây này,” Charlie bảo. “Trước khi em ngủ, làm ơn kể cho anh nghe coi em đã ra khỏi buồng chứa thế nào, mà làm sao cây nến đó tự sáng được thế?”

“Ừm,” Billy lại ngáp, “em chờ cho đến khi yên thật yên, sau đó tìm thấy một mẩu giấy, em liền đẩy nó xuống dưới cửa. Em thọc một cây viết chì vào lỗ khoá và bẩy cái cần khoá lên, sau đó em kéo nó về phía em. Trời tối thui, em sợ, sợ quá chừng. Em lúc nào cũng mang theo mấy cây nến này bên mình, chú Crowquill giám hộ của em cho em trước khi chú ấy chết. Mãi đến đêm nay em mới biết chúng có công dụng gì. Em lấy một cây ra và… và…” Cái ngáp tiếp theo của Billy nghe gần như một tiếng rên.

“Và sao,” Charlie giục.

“Em cố tìm diêm, nhưng trời tối quá tối, và em sợ quá sợ, và… và…”

“Và sao?” Charlie điên tiết thét lên, giờ thì nó chẳng thèm quan tâm bà giám thị có nghe thấy mình hay không.

“Và… và em khóc,” Billy thú nhận, “và em nói ‘Ôi ước gì mình có thể thấy đường’ và thế là cây nến tự nhiên… sáng lên.”

“Chao!” Charlie cuối cùng cũng nằm xuống trở lại. “Tuyệt thật. Em giữ mớ nến ấy biết bao nhiêu lâu rồi mà không hề biết chúng làm được gì. Tội nghiệp chú Christopher Crowquill.”

“Bây giờ em có tới năm cây nến, bởi vì Ông cậu của anh đã đưa lại cho em cây nến mà chú Crowquill có gởi ông ấy. Em ước gì người giám hộ của em còn sống,” Billy sụt sịt và sấp mặt xuống.

Charlie thấy mình cũng mệt đứ đừ, nhưng trước khi ngủ, nó hỏi Billy xem thằng bé có muốn về nhà với nó vào tối thứ Bảy không.

“Không, cảm ơn anh,” Billy lẩm bẩm. “Em nghĩ em sẽ ở lại đây. Em chưa bao giờ xem Đại Dạ Vũ cả.”

Charlie cũng chưa bao giờ xem Đại Dạ Vũ, nhưng không gì có thể níu kéo nó ở thêm một đêm nữa trong Học viện Bloor.

Sáng hôm sau, bữa sáng của hai thằng bé bị cắt ngang bởi một người đàn ông cao lớn, hói xọi, mang bộ ria mép màu vàng gừng. Thò đầu qua cánh cửa căn-tin xanh da trời, ông ta thốt lên, “Á. Không phải ở đây thì phải?”

“Thưa, ngài đang tìm gì vậy?” Charlie hỏi, miệng đầy cốm bắp.

“Miệng đầu thì đừng có nói,” bộ ria mép vàng gắt gỏng.

Bà bếp trưởng từ trong bếp hiện ra, người lạ liền nói, “Trông bà có vẻ là một người biết điều phải lẽ đấy. Phòng họp ở đâu?”

Bà bếp trừng trừng nhìn người đàn ông, ngực bà phập phồng căm phẫn. “Chắc chắn tôi phải biết điều hơn ông nhiều. Lẽ ra ông nên quẹo phải, chứ không phải quẹo trái.”

Ria Gừng Vàng rụt đầu lại và đóng cánh cửa một cái kịch bực bội.

“Hiệu trưởng đấy!” Bà bếp trưởng lầm bầm. “Chả có phong thái gì hết trọi. Tưởng mình là thượng đế chắc. Vài người trong đám đó còn không kìm chế được thói phô trương, khoe khoang. Ta đã gặp thôi thì đủ nhà biến hình, kể hô biến và bọn phỉnh lừa. Họ hô biến đồ ăn, cho nó bay lên trời, biến nó thành sô-cô-la hay bất cứ thứ gì họ khoái; rồi có người còn táy máy biến đồ sứ thành đồ vàng hay bạc nữa chứ, chỉ vì thích thế đấy. Hừ, tối nay họ sẽ phải kiềm chế lại thôi. Chứ ngài thị trưởng không chịu nổi những thứ kiểu ấy đâu.”

Hai đứa đã không hề hay biết gì về những màn làm phép diễn ra trong khi chúng núp dưới gầm bàn, và tiếc hùi hụi vì đã bỏ lỡ mất. Nhưng không phải lỡ tất cả.

“Thưa bà bếp trưởng,” Charlie hạ thấp giọng. “Cô Chrystal là…”

“Ta biết, Charlie. Ta đã nghe nói rồi. Ta không thể nói chuyện đó vào lúc này! Một phút nữa thôi là tất cả họ sẽ tràn vào đây. Tất cả những hiệu trưởng. Họ sẽ bắt đầu trong nhà hát và rồi sau đó sẽ gặp nhau ở khắp mọi nơi; số thì gặp nhau trong các phòng học; số thì vô nhà thi đấu. Ta không biết hai cháu định sẽ đi đâu.”

Hai đứa ngay sau đó biết ngay mình sẽ đi đâu. Chúng đang trên đường trở về phòng ngủ chung của mình thì tông thẳng vào Manfred Bloor.

“Hai tụi bay làm gì ở đây?” Manfred sủa.

“Chúng em không biết đi đâu nữa,” Billy nói.

“Ra kia!” Manfred chỉ tay ra cầu thang chính.

“Kia?” Charlie hỏi lại. “Đến khi nào ạ?”
Loading...

Đọc Tiếp Chương 13 phần 2

Tới Chương nhanh

Bạn Đang đọc Charlie Bone và nhà vua ẩn mình (Tập 5) Chương 13 phần 1