MỘT TRĂM VỊ HIỆU TRƯỞNG

Phải chi Charlie nhìn ra ngoài cửa sổ thì thể nào nó cũng mục kích được một cảnh tượng ngoạn mục. Bầu trời rợp bóng chim. Chúng yên lặng, nhưng thinh không ngăn vẳng tiếng đập cánh. Từ từ, những nhóm chim nhỏ bắt đầu tách ra khỏi bầy chim lớn. Chúng sà xuống đậu trên những bức trường, trên cây cối, trên hàng rào và trên những toà nhà. Đậu xuống rồi, chúng rúc đầu vào dưới cánh ngủ thiếp đi. Chẳng bao lâu sau chỉ còn mỗi bọn cú là thức.

Bên dưới, trong thành phố, những người tỉnh ngủ bị hút về cửa sổ. Họ được tưởng thưởng bằng một quang cảnh mà họ sẽ không bao giờ quên. Hàng hàng lớp lớp những sinh vật im lặng và nghiêm trang di chuyển qua thành phố. Dẫn đường là ba con mèo có bộ lông sáng rực rỡ, đến nỗi không khí xung quanh chúng sáng loá lên những gam màu dữ dội. Trên mỗi đường phố diễu qua, những con thú lần lượt tìm thấy nhà mình. Chúng phóng qua cửa sổ, chúng bước vào vườn, vào cũi, vào chuồng, và những người chứng kiến đang sửng sốt kia liền trút một tiếng thở phào nhẹ nhõm. Vậy là cuối cùng thành phố không chết.

Tin tức truyền đi thần tốc. Đến giờ nghỉ giải lao đầu tiên thì ngay cả bọn trẻ trong Học viện Bloor cũng đã nghe nói về cuộc trở về vĩ đại. Tiếng cười rộn rã vang lên trong các căn-tin và các lớp học; nụ cười mỉm đã xuất hiện trên gương mặt của những đứa trước đó từng tuyên bố rằng mình sẽ không bao giờ mỉm cười nữa. Charlie thấy nhẹ cả người, mặc dù vài đứa học chung lớp vẫn nhìn nó với con mắt nghi ngờ.

Vấn đề này vừa được giải quyết xong, Charlie đã lại phải đối mặt ngay với một vấn đề khác. Cấm túc. Nó tha thiết muốn biết xem ngoại Maisis đã tan chưa, và nó cũng cảm thâấ mình nhất thiết phải về nhà để canh chừng mẹ.

Vào giờ ăn trưa, Charlie thấy Billy trong căn-tin, đang xơi một món đặc sản của bà bếp trưởng: thịt nhím nấu khoai tây.

“Đây không phải là thịt nhím thật,” Billy nghiêm trang. “Chẳng qua món này có những miếng giòn giòn rất ngon.”

Trong khi múc đồ ăn cho Charlie, bà bếp trưởng nhỏ nhẹ bảo, “Ta nghe nói những con thú đã trở về.”

Charlie gật đầu, “Những con mèo lửa đã đưa chúng về. Nhưng con bị cấm túc vào cuối tuần này, cho nên…”

“Cái gì?” Bà bếp trưởng hạ cái muôi xuống. “Sao lại thế được.” Trong bà ngạc nhiên ghê lắm.

Charlie toan hỏi tại sao, thì đằng sau nó, Gabiel kêu oang oác. “Tôi đói sắp chết rồi này. Đi thôi Charlie.”

Charlie cầm đĩa thịt nhím của nó lại bàn của Billy. Đôi ba phút sau có thêm Fidelio cà Gabriel tới nhập bọn.

“Các anh có biết chuyện gì xảy ra vào cuối tuần này không?” Billy hỏi những đứa kia.

“Anh bị cấm túc,” Charlie đáp.

“Không, em không có ý nói điều đó”. Billy ưỡn khuỳnh vai ra và nói với vẻ rất chi là quan trọng,

“Đó là Tiệc Chiêu Đãi Một Trăm Vị Hiệu Trưởng vào tối thứ Sau, và Đại Dạ Vũ vào thứ Bảy. Em nghe thấy tiến sĩ Bloor nhắc nhở bà giám thị như vậy đấy. Ông ấy sùng máu vì chuyện bà kia phạt cấm túc anh, Charlie à, vì ông ấy không muốn có bất kỳ đứa trẻ nào ở trong toàn nhà cả. Nhưng bà giám thị bảo rút lại lệnh phạt cấm túc là đi ngược với những nguyên tắc của bà ta. Tiến sĩ Bloor đùng đùng tức khí bỏ đi. Ông ấy bảo bà giám thị phải bắt anh tránh xa ra. Em nghĩ ông ta ám chỉ cả em nữa, bởi vì em sẽ ở đây nếu anh ở đây, phải không Charlie?”

Charlie cảm thấy hết hơi khi Billy cuối cùng đã ngừng nói.

Gabriel bảo, “Billy, tôi chưa bao giờ nghe em nói quá nhiều trong một hơi như vậy.”

Fidelio hỏi, “Thế Tiệc Chiêu Đãi Một Trăm Vị Hiệu Trưởng và Đại Dạ Vũ là gì?”

“À,” Billy lại bắt đầu. “Em đã tìm hiểu được đôi chút từ Manfred rồi.”

“Từ Manfred!” Bọn kia sửng sốt la lên.

Anh ta vốn rất thích được coi là quan trọng mà, vì vậy em mới nghĩ anh ta sẽ rất khoái được nói cho em biết. “Billy lại tiếp”, “Mà đúng như vậy thật. Anh ta bảo là cứ mười năm một lần lại diễn ra một cuộc tụ hội. Hiệu trưởng từ một trăm học viện khác đến đây để trao đổi thông tin về các học sinh của họ và về đủ mọi thứ.”

“Những học viện nào khác?” Charlie nói.

“Tất cả những học viện có trẻ con được ban phép thuật đến học,” Billy nói.

“Còn những học viện khác sao?” Charlie ngạc nhiên.

“Dĩ nhiên, có sao không!” Gabriel trầm ngâm. “Em cứ nghĩ đi, phải có đến hàng trăm những đứa trẻ như tụi mình ở khắp mọi nơi trên thế giới ấy chứ. Ý tôi là Vua Đỏ có mười người con, và nếu như tất cả họ đều có con cái, mà đã cách đây chín trăm năm thì…”

“Chao!” Miệng Charlie rớt xệ xuống. “Sao à em khờ quá?! Tất cả bọn chúng không thể dồn hết vào Học viện Bloor, đúng không? Không thể nào như thế được nếu họ sống ở Trung Quốc, hay châu Phi.”

“Hay thậm chí ở Scốt-lên, hay Ai-len,” Fidelio nói.

“Phùù! Thế mà em chả bao giờ nghĩ ra,” Charlie lắc đầu, thấy kỳ diệu quá chừng.

Chúng cắm đầu vào món thịt nhím, mỗi đứa đeo đuổi một ý nghĩ của riêng mình về những học viên khác, những đứa trẻ khác và những vị hiệu trưởng khác.

“Bằng mọi giá anh sẽ vào Tiệc Chiêu Đãi Một Trăm Vị Hiệu Trưởng đó” Charlie nói. “Có rất nhiều thứ anh muốn tìm hiểu.”

“Em cũng vậy,” Billy đồng tình.

Charlie nuốt nghiến miếng thịt nhím cuối cùng của mình và mỉm cười. Rốt cuộc, cuối tuần này cũng không đến nỗi tệ. Có lẽ mẹ nó đã tìm thấy cỏ roi ngựa, và khi về đến nhà thì ngoại Maisie đã trở lại là bà rồi.

Đám học trò của Học viện Bloor ra về mà không mảy may nghi ngờ rằng sắp có một sự kiện trọng đại diễn ra trong trường mình. Đến thứ Sáu, trần đại tiền sảnh đã sáng trưng với hàng ngàn cây đèn lồng. Gươm, cung, nỏ, mã tấu, đại đao, thương và nhiều lại vũ khí trông ấn tượng khác được lôi ra khỏi tủ, rương, hòm; rồi được đánh bóng đến độ sáng loá cả lên, và đem treo trên những bức tường ốp gỗ sồi, khiến người ta trông thấy phải nín thở vì khiếp sợ và thán phục. Một đội quân lao công đã lau chùi từng viên đá lát sàng láng bóng lên, và bọn trẻ nhận lệnh là chỉ được bước đi ở những mép tường mà thôi.

Trong sảnh tối, ánh sáng có hơi lu hơn một chút, mặc dùng có nhiều cái giá bằng đồng thau đã được gắn vào tường. Phải chăng chúng dùng để đỡ những cây đuốc thắp sáng? Và những vị khách quan trọng đó sẽ được phục vụ trong ánh lửa?

Thậm chí cả những cô phục vụ bữa tối tính vốn xởi lởi nhất cũng trở nên cáu bẳn. Khối công việc nặng nhọc phát sinh đang vắt kiện sức họ. Suôt cả ngày, giờ nào cũng thấy họ tất tả ngược xuôi trong các hành lang, bưng những khay đồ bằng bạc mà bao năm ròng chưa hề thấy ánh sáng ban ngày.

Hết dĩa tiệc tùng lớn bằng sứ, lại ly cốc bằng pha lê, rồi đến đĩa ăn bằng vàng…, tất cả đều được moi ra khỏi buồng chưa đồ, rồi mang tới khu nhà bếp để cọ rửa cho sáng.

Những bóng đèn thần tiên treo dọc suốt hành lang tối tăm thông từ tiền sảnh tới căn – tin và phòng ăn tối, và Charlie nhận thấy một số bức chân dung được trang hoàng bằng ruy – băng vàng óng. Tuy nhiên, không phải bức nào cũng thế. Có lẽ chỉ những nhân vật có mối liên hệ trực tiếp với những vị khác danh dự mà thôi.

Charlie và Billy ngồi trong phòng ngủ chung nhìn bọn khác đóng gói ra về. Lòng Charlie dâng trào một cảm giác kiêu hãnh kỳ lạ. Tuy đã cố tỏ ra rầu rĩ cho hợp cảnh khi Bragger Braine và Rupe Small bước ra cửa, với túi xách của chúng lẳng trên vai một cách trễ nải, nhưng nó vẫn không ngăn được một nụ cười nhếch lên nơi khéo miệng.

“Mày cười cái gì?” Bragger gườm gườm.

“Giỏ của Rupe nặng đến nỗi trông nó như đang chìm kìa. Mày còn bao nhiêu hũ Cánh Hoa Thơm ở trong đó vậy, Rupe?

Một vài đứa ré lên cười khúc khích, còn Rupe thì hét, “Câm ngay!”.

“Chúc một cuối tuần không ra gì, nha, Charlie Bone”, Bragger nói, lặc lè đi ra theo sau Rupe.

Gabriel và Fidelio là những đứa cuối cùng đi khỏi. Chúng chúc Charlie may mắn và hứa sẽ họp mặt vào Chủ nhật.

“Tôi sẽ mang thêm chuột”, Gabriel nói, vẫy tay một cái lần cuối.

Không lâu sau, khi đứa học trò cuối cùng rời khỏi trường, bà Lucretia Yewbeam ngó vào phòng ngủ chung và báo với Charlie và Billy rằng chúng sẽ ăn tối sớm. “Ta muốn cả hai bọn bay trở lại đây trước sáu giờ”, bà ta nẹt. “Đèn tắt lúc bảy giờ và không đứa nào trong hai đứa được rời khỏi phòng nay cho tới bữa sáng mai.”

“Đèn tắt lúc bảy giờ!” Charlie phàn nàn. “Tại sao vậy?”

“Chứ mày nghĩ tại sao? Đó là trừng phạt. Nào, giờ thì đi rửa ráy đi. Bữa tối trong căn – tin lúc năm giờ rưỡi mà”. Với nụ cười rộng chành bành, bà giám thị lướt ra.

Lúc hai đứa đi tìm bà bếp trưởng, chúng thấy bà trong nhà bếp, đang bận túi bụi. Những người phụ việc bấn loạn lượn mòng mòng xung quanh bà, trong khi bà chạy đôn chạy đáo từ dàn bếp lò khổng lồ tới phòng trữ đông rồi lại trở về, miệng lẩm ba lẩm bẩm, “Một trăm món này, một trăm món kia, súp rùa, bánh pate bồ câu, thịt bò kiểu này, thịt bò kiểu kia. Không thịt cho ông đó, không kem cho bà nọ…” Không ngẩng mặt lên nhìn, bà nói luôn, “Chào các cậu. Chỉ có đậu nướng rải lên bánh mì cho các cậu thôi, ta e là vậy. Đây.”

Bà bếp trưởng chia một nồi đậu vào hai dĩa bánh mì nướng phết bơ, rồi đặt chúng lên một cái khay cùng hai tô sữa trứng.

“Khi nào thì bữa tối bắt đầu ạ?” Charlie hỏi.

“Bảy rưỡi, mà ta thì không bao giờ chuẩn bị kịp.”

Một đàn người phụ việc phát rồ chạy ập tới chỗ bà bếp trưởng, thế là bà vội xua bọn con trai đi, “Xin lỗi các con, ta phải tiếp tục đây.”

Charlie cầm cái khay đi vào căn – tin và đặt lên chiếc bàn xa quầy nhất. Tiếng ồn ào từ bếp vọng ra ầm ĩ đến độ bọn trẻ không thể nghe được suy nghĩ của chính mình. Chúng nuốt vội bữa tối và rút khỏi căn – tin càng nhanh càng tốt.

Trở lại phòng ngủ chung, chúng thay pyjama vào và rón rén đi ra chiếu nghỉ phía trên tiền sảnh. Nằm ép dẹp bụng xuống, chúng hé mắt dòm qua những con tiện chắn lan can nhìn xuống tiền sảnh rộng lớn. Chúng gần như không còn nhận ra tiền sảnh nữa.

Hàng ngàn ngọn đèn lồng thắp sáng trưng, một biển người di chuyển chầm chậm quanh tiền sảnh. Hầu hết khách khứa đều diện đồ dạ và đồ đại lễ, nhưng cũng có một số ông đội khăn xếp, số khác lại mặc áo chùng dát vàng, và những người khác nữa thì khoác áo gió đủ sắc cầu vồng. Co cả vài người mặc áo thụng trắng, và một người đàn ông ngập từ đầu đến chân trong vải lụa màu tía, cùng với một bao kiếm nạm ngọc đeo ở thắt lưng. Đám phụ nữ xúng xính sari Ấn Độ truyện trò với các bà các cô bận kimono Nhật Bản; người người trong các kiểu trang phục truyền thống sặc sỡ nhiệt tình nói chuyện mà chồm người tới trước, cố hiểu được ngôn ngữ của nhau.

Lão Ezekiel, thu lu trong bộ áo khác nhung đen và nón ôm sát đầu màu đỏ, đẩy xe lăn xuyên thẳng qua đám đông; lão lăn tới đâu, từ phía sau ghế lão ngồi những viên pháo tép rít lên và nổ lạch tạch liên hồi tới đó, khiến cho một số vị khách phải nhảy bắn sang một bên, mút mát cánh tay và khớp ngón tay bị cháy của mình.

Các cô bồi bàn mặc váy ngắn màu đen, đội mũ lưỡi trai và đeo tạp dề trắng luồn lách qua đám đông, bưng bê những đĩa lớn đựng các món ăn vặt, với mỗi miếng vừa vặn bỏ miệng ăn, trong khi những anh bồi mặc gi – lê đỏ và vàng kim cẩn thận giữ thăng bằng những khay sâm banh sủi bọt.

Ở ngay chân cầu thang, một nhạc công đàn hạp váy hồng xòe rủ lướt tay qua những sợi dây của đàn hạp khổng lồ màu vàng óng. Tiếng đàn du dương vút lên rồi rơi xuống giữa những tiếng truyện trò râm râm ran ran.

Billy ghé đầu sát vào đầu Charlie và thì thầm, “Ở đây toàn những người nguy hiểm.”

“Em đang nói về ai cơ?” Charlie thì thào lại.

“Về Vua Đỏ. Những người con tốt của ngài đã vĩnh viễn rời khỏi lâu đài của cha họ. Một số thậm chí còn rời đất nước. Nên những người dưới kia kìa, ừm, có lẽ là những người từ nước ngoài về ấy, là cháu chắt của những người con tốt.”

Charlie chưa nghĩ tới như thế, nhưng giờ nó quan sát những gương mặt bên dưới chăm chú hơn. Có phải vì nó tưởng tượng không, hay thực sự hầu hết những người mặc đồ dạ tiệc đều mang vẻ mặt canh chừng? Và rõ ràng những người đó trông dữ tợn và khắc khổ hơn những người kia. Trong khi đó, đa phần khách nước ngoài trông lại thân thiện và thư thái. Họ hay mỉm cười hơn và thậm chí có lúc còn cười phá lên.

Charlie bỗng sực nhớ, liền nhìn đồng hồ đeo tay. Bảy giờ kém năm phút. Nó hích tay Billy. “Năm phút nữa bà giám thị sẽ ở trong phòng ngủ chung. Bà ấy vừa đi khỏi là tụi mình tức tốc lẻn xuống sảnh ăn tối, coi xem có thể núp ở đâu được trước khi bữa tiệc bắt đầu nhé.”

Chúng bò ra khỏi chiếu nghỉ và chạy như bay về lại phòng ngủ chung. Đúng một phút sau khi chúng nhảy tọt lên giường, cánh cửa bật mở và bà giám thị ngó vào. Bà ta trông mới lố lăng làm sao với váy dài dạ hội màu ngọc lục bảo, đôi bông tai xanh lá cây dài dễ phải chạm đến vai. Mái tóc xám trắng được búi thành cục to trên đỉnh đầu và điểm tô thêm bằng một cái nơ con bướm xanh lá cây to bành. “Tắt đèn,” bà ta nói lạnh lùng. “Trong trường hợp đứa nào cả gan dám nghĩ đến việc đi lăng quăng thì nhớ, hình phạt tiếp theo sẽ còn tệ hơn thế này nhiều”.

“Vâng, thưa bà giám thị”, Charlie đáp một cách hiền từ. Nó nghĩ vơ quàng của Billy vào hình phạt của nó là không công bằng, tuy nhiên nó quyết định không trả treo làm gì.

Bà giám thị tắt đèn, nhưng trước khi đóng cửa lại, bà ta nói, “Mày không khen bà cô mày đẹp lấy một tiếng sao, hả?”

“Không, thưa bà cô”, Charlie nói. “Ý cháu là…”

Bà ta đóng sầm cánh cửa.

Charlie lắng nghe tiếng bước chân bà ta xa dần. “Bà ấy sẽ không trở lại đâu”, nó nói. “

Coi bộ không có vẻ gì là sẽ quay lại.”

“Em cá là bà ta đi chài một ông hiệu trưởng đẹp trai giàu có nào đó”, Billy cười khi khì.

Chúng chờ thêm năm phút nữa thì xỏ vội đôi dép lê, len lén đi tới cầu thang phía sau và xuống lầu trệt. Giờ hai đứa đã ở hành lang, ngang qua những căn – tin và xuống phòng dạ tiệc ở dưới lòng đất. Nép mình vào những mảng tối, chúng đi gần tới phòng dạ tiệc, bỗng một cô hầu bàn trở ra từ nhà bếp xanh lá cây. Cô ta kéo chiếc xe đẩy chất đầy nhóc những đĩa đồ ăn.

Bọn nhóc rụt vội vào tường nhưng cô hầu đã trông thấy chúng. “Chào các em”, cô nói, nghía bộ đồ ngủ của chúng. “Các em đang làm gì ở đây thế?”

“Tụi em xuống xin chút nước uống ạ”, Charlie mau miệng. “Tụi em khát đến nỗi định uống vòi nước trên lầu nhưng vì đường ống bị gỉ sét… hay làm sao đó”.

“Tội không. Vào đi và tự lấy nước mà uống”, cô hất đầu về phía cánh cửa căn – tin.

“Cảm ơn cô!” Charlie trao cho cô hầu một nụ cười tuyệt vời nhất. Nhưng không cách chi nó dám vào nhà bếp xanh lá cây, nơi bà Weedon đang trấn giữ. Bà ta là người nấu bếp bủn xỉn, bần tiện và vô cùng xấu tính, chắc chắn bà sẽ sai chồng ra lôi cổ bọn nhóc về lại phòng ngủ chung.

Cô hầu bàn đẩy chiếc xe đi qua chúng và tới căn – tin xanh da trời. “Lộn món rồi”, cô càu nhàu. “Thế mới rầy rà”.

Ngay đúng lúc cái lưng của cô rẽ ngoặt vào, hai thằng bé phóng vù tới sảnh ăn tối. Chúng sắp lách qua cánh cửa đôi thì Billy hỏi, “Tụi mình trốn đâu bây giờ?”

“Dưới gầm bàn,” Charlie nói.

“Nhưng… họ có thể thấy tụi mình.”

Charlie không muốn nghĩ đến điều đó. Nó mở hí cửa ra chừng một phân và liếc vào trong. Thật may ơi là may. Mọi cái bàn đều phủ khăn trải bàn trắng khổng lồ, rủ xuống chạm mí sàn.

Một cô hầu bàn đang bận rộn sắp xếp ly tách lên cái bàn trên bục cao của tiến sĩ Bloor, nhưng ba dãy bàn kia đã được bày biện xong xuôi. Bên trên mỗi miếng vải lót đĩa bằng nhung đỏ đều đặt một tấm danh thiếp bạc, in một cái tên, và quanh mỗi miếng lót đĩa lại được vây quanh không biết bao nhiêu là dao, nĩa, thìa và ly, đến nỗi Charlie không kịp đếm.

Những giá đuốc rực rỡ bằng đồng thau hắt xuống một màu cam chói loá, đầy nguy hiểm, và từ cửa, Charlie đã có thể cảm thấy hơi nóng từ những ngọn lửa uốn éo toả ra.

Canh đúng khoảnh khắc cái lưng cô hầu bàn vừa khuất, Charlie thì thào, “Đi nào!”

Cúi rạp người xuống, hai đứa nửa bò nửa chạy về phía chiếc bàn chính giữa và chui tuột vào tấm khăn trải bàn. Một mùi khủng khiếp đập vào lỗ mũi Charlie và nó thấy, thật kinh hãi, May Phúc cũng đã chọn đúng cái bàn này để núp.
Loading...

Đọc Tiếp Chương 12 phần 2

Tới Chương nhanh

Bạn Đang đọc Charlie Bone và nhà vua ẩn mình (Tập 5) Chương 12 phần 1