CÔ BÉ ÁO CHOÀNG MÀU NẮNG

Đồng hoang. Cái từ đó cứ lởn vởn trong tâm trí cả đám nhưng không, à chưa đứa nào dám nói tuột ra. Đến lúc này thành phố đã đông nghẹt người đi mua sắm ngày thứ Bảy và khi bốn đứa rời quán Cà Phê Thú Kiểng, chúng liền hướng ngay về con phố tĩnh lặng dẫn tới tiệm sách cô Ingledew.

Mỗi cuối tuần Emma đều phụ trông coi tiệm sách, cũng là nơi con bé sống với dì Julia của nó – một người dì rất thông minh và tốt bụng. Hầu như tất cả những sách hiếm và cổ trên kệ sách của mình dì đều đã đọc qua, còn kiến thức của dì về thành phố và về quá khứ của thành phố thì thuộc loại uyên thâm hiếm có. Rất có thể dì sẽ biết về cánh đồng hoang bên kia sông. Cũng rất có khả năng là Ông cậu Paton của Charlie đang ở tiệm sách. Thế cho nên, thậm chí không bàn một lời, lũ trẻ cùng bị hút về phía hai người có thể nói cho chúng biết điều gì đã xảy ra với đám muông thú.

Kiệt sức sau cuộc hành trình dài của mình, Rembrandt đã rơi vào giấc ngủ mê mụ. Nó nằm tròn vo trong túi quần Billy, chẳng thể chít thêm được một tiếng nào nữa.

Khi cả bọn kéo gần đến tiệm sách, cái ồn ào của thành phố lùi xa dần và đột nhiên chúng nhận thấy có gì đó không ổn. Chẳng đứa nào có thể xác định được đó là cái gì, nhưng không hiểu sao cả bọn cứ cảm thấy hốt ha hốt hoảng.

“Ở đây ớn như có ma ám,” Benjamin nhăn mũi. “Hồi nào có bao giờ như vậy đâu.”

“Không có chim chóc,” Emma bảo. “Bọn chúng đi hết cả rồi.”

Cả đám đến được quảng trường rộng rải sỏi ở đằng trước nhà thờ lớn, nơi mà thường ngày vẫn thấy ít nhất một tá quạ gáy xám đi nghênh ngang trên lớp sỏi, hoặc quang quác rầm rĩ trên nóc nhà. Hôm nay thậm chí đến một con chim bồ câu cũng chẳng có.

“Không có mèo luôn,” Charlie nhận xét. “Mọi khi lúc nào cũng có một con mèo bắt chuột quanh nhà thờ lớn mà.”

“Cả chó cũng không,” Benjamin xoay tròn trên gót chân, trố mắt nhìn quanh quảng trường. “Thứ Bảy người ta hay dắt chó đến đây. Vậy chứ, chúng đâu hết rồi?”

Billy nói toẹt ra cái từ đang ở trong đầu cả đám. “Trong đồng hoang.”

Charlie bất chợt có cảm giác như kiến bò đằng sau gáy mình. Có ai đó đang nhìn bọn chúng. Nó quay phắt lại, vừa kịp thấy một bóng hình màu vàng biến vụt vào một ngõ hẻm. “Tụi mình đang bị theo dõi,” nó lẳng lặng nói. “Mình vừa mới thấy một cái gì màu vàng lồng phồng, ở đằng kia kìa.”

Không đứa nào dám nhìn theo tay Charlie chỉ. Cả đám vắt giò chạy tọt vào tiệm sách như thể có một con quái vật đang lần theo dấu. Charlie chạy theo bọn bạn, loạng choạng xuống những bậc tam cấp dẫn vào trong tiệm và va sầm vào Benjamin, thằng này hoảng vía thét lên một tiếng cảnh báo.

Giật mình bởi sự náo loạn đột ngột, Ông cậu Paton Yewbeam, đang đứng chông chênh trên đỉnh chiếc thang gấp, bỗng lắc lư thật nguy hiểm và suýt nữa thì làm tuột mất chồng sách ông ôm đầy ứ trong vòng tay, đang định chất lên cái kệ cao.

“Paton, coi chừng!” Cô Julia Ingledew chạy bắn qua phòng đến giữ cái thang lại.

“Lại vụ gì thế, bọn nhỏ?” Ông cậu Paton đặt đống sách lên kệ và leo xuống thang.

Tất cả bốn đứa trẻ thi nhau nói một lúc, khiến Ông cậu Paton phải bịt tai lại và hét lên, “Quỷ tha ma bắt, từng đứa một thôi.”

“Chúng ta nghỉ giải lao đi,” cô Ingledew đề nghị.

Tất cả liền dồn sang phòng khách nhỏ xíu đằng sau tiệm sách, và tỏng khi bọn con trai ngồi chen chúc cùng với sách trên ghế đẩu với ghế sofa, thì Emma thuật lại buổi sáng của mình, từ lúc phát hiện chuồng vịt của Nancy trống lốc đến lúc thấy vắng hẳn bóng chim, bóng thú trong thành phố.

“Ta cũng đã biết là có cái gì đó sai lệch,” Ông cậu Paton trầm ngâm. “Nhưng ta không tài nào nhận ra được cái sai lệch ấy là gì. Đeo mắt kính đen vào là ta hay để vuột mất chi tiết lắm.”

“Nhưng Ông cậu có biết gì về đồng hoang bên kia sông không?” Charlie hỏi ông cậu nó.

“Ta chưa bao giờ liều đi xa đến thế,” Ông cậu Paton nói với vẻ hối tiếc. “Mà tại sao thú vật lại chọn đi tới đó, ta hoàn toàn không biết.”

“Chúng sợ hãi,” Charlie nói.

“Nhưng tụi con không biết tại sao mà chúng sợ,” Emma tiếp.

“Biết chứ,” Billy xen vào. “Chẳng phải Rembrandt đã nói với tụi mình là có cái gì đó thức dậy và mặt đất rùng mình đó sao?”

“Cháu sẽ không bao giờ gặp lại Hạt Đậu nữa rồi,” Benjamin mếu máo. “Ôi, tại sao nó lại không thể chờ cháu vậy?”

Cô Ingledew nãy giờ vẫn lui cui dọn dẹp từng góc nhỏ trong căn phòng, bỗng dừng tay lại và nhìn xoáy vào Billy. “Rùng mình? Cháu bảo là rùng mình hả?” Cô hỏi Billy.

“Phải ạ, Rembrandt nói thế ạ,” Billy trả lời cô.

“À, em có giả thuyết gì về mặt đất chăng, Julia?” Ông cậu Paton ngồi xuống trở lại, kèm theo nụ cười.

Họ đợi cô Ingledew giải thích.

“Mọi người có thể cười nhạo tôi, nhưng mà tôi nói là có lý do cả đấy.” Cô cúi xuống bàn viết của mình và bắt đầu đút mớ báo chí vào ngăn kéo.

Sau một quãng thời gian chờ đợi bồn chồn ngắn ngủi, Charlie nằn nì, “Cô làm ơn nói cho tụi cháu nghe giả thuyết của cô đi, cô Ingledew. Tụi cháu sẽ không cười đâu mà.”

Cô Ingledew gạt mớ tóc dày màu hạt dẻ khỏi mặt và đứng thẳng lên. “Tốt lắm, nhưng cô chắc chắn cháu đã từng nghe nói về nó rồi, Charlie à.” Cô ngồi lên tay ghế của Ông cậu Paton. “Như các cháu biết đấy, Vua Đỏ, người mà tất cả các cháu là hậu duệ ấy – ngoại trừ cháu, dĩ nhiên rồi, Benjamin – ừm, khi hoàng hậu chết và nhà vua bỏ vào rừng than khóc một mình, thì mười người con của ngài đánh nhau liên miên, cho đến khi năm người trong số họ phải rời khỏi lâu đài mãi mãi. Nhưng cuộc chiến đó không hề chấm dứt, mà vẫn tiếp tục hàng nhiều thế kỷ, đúng vậy, đến tận nhiều thế kỷ sau.”

Tiếng lao nhao ngạc nhiên nổi lên khi bọn trẻ buột miệng:

“Chao! Nhiều thế kỷ?”

“Ý cô là hàng trăm, trăm năm hả?”

Charlie nói, “Giống hệt như đang diễn ra ngày hôm nay, phải không cô? Ý cháu là theo kiểu gia đình Bloor cố kiểm soát tất cả mọi người, rồi Ông cậu Paton chống lại họ khi họ đi quá xa...”

“Và bà nội gớm ghiếc của bồ luôn luôn chống lại bồ,” Benjamin thêm.

“Suỵt!” Ông cậu Paton huơ bàn tay lên. “Nếu bọn bay muốn nghe xem cô Ingledew nói gì thì làm ơn để cô ấy nói tiếp đi.”

Bọn trẻ lập tức im bặt.

Cô Ingledew mỉm cười hết lượt với cả đám trẻ. “Như cô đã nói đấy, sự giết chóc kéo dài hàng nhiều thế kỷ. Vùng đất xung quanh lâu đài là một chiến trường bất tận, cho tới khi, vào thế kỷ thứ 18, một trận hỏa hoạn đã thiêu hủy hầu hết nhà cửa trong thành phố. Chỉ còn mỗi khu vực nhỏ quanh nhà thờ lớn này là thoát được. Còn đâu tất cả nơi khác đều phải xây dựng lại. Chính vào khoảng thời gian này mà gia đình Bloor đã xây dựng nên một tòa nhà đồ sộ ngay trên bãi đất của lâu đài bị tàn phá.”

“Học viện Bloor!” Charlie kêu lên.

“Chính xác,” cô Ingledew xác nhận. “Mặc dù cô tin rằng vào thời đó nó được gọi là Dinh thự Bloor.”

Benjamin, giờ đang nhăn nhó vì tiếu kiên nhẫn, nói, “Cháu chẳng thấy chuyện này có gì liên quan tới việc mặt đất rùng mình cả.”

“Dĩ nhiên là không, cô rất tiếc. Để cô giải thích nhé,” cô Ingledew nói. “Nhưng nó liên quan tới lịch sử: bao nhiêu con người đau khổ, bao nhiêu con người bị căm ghét, sợ hãi, tất cả đều bị chôn vùi dưới những lớp tro tàn, bên dưới mảnh đất lâu đài và bên dưới thành phố, tất cả...” cô ép chặt mười ngón tay vào nhau, “tất cả dằn nén lại và rồi...” Cô liếc nhìn gương mặt tái mét của Billy. “Ồ, cô làm cháu sợ hả...”

“Không đâu. Không đâu cô,” Billy thốt lên. “Làm ơn kể tiếp đi cô.”

Cô Ingledew ngần ngừ tiếp, “Ờm, bất giác cô cảm thấy rằng chắc chắn ngày càng có nhiều vong hồn quỷ dữ... bị bỏ... ờ... vất vưởng”

“Giống như ai đó lật mồ mả của họ lên,” Charlie sốt sắng gợi ý.

“Đúng, kiểu như thế đó.” Cô khẽ cười. “Nhưng, thật sự thì, Charlie à, ý cô là có cái gì đó, hoặc ai đó, chắc hẳn đã đánh thức họ dậy.”

“Và đó chính là lý do khiến mặt đất rùng mình,” Billy chen vào. “Những con mèo lửa đã nói rằng chúng cần phải ngăn không cho người ta tìm ra cái gì đó.”

“Một chìa khóa, chắc chắn,” Ông cậu Paton nói, như là cố nhịn để khỏi ngáp.

Charlie biết thừa giọng nói ra vẻ chán nản của Ông cậu là để nhằm che giấu nỗi tò mò của ông, và nó hỏi, “Ông cậu không có ý ám chỉ chìa khóa thật đấy chứ?”

“Không, Charlie. Đúng hơn là một vật tạo tác, một vật mà sẽ nối kết một vong hồn cổ xưa với thế giới của chúng ta.”

Billy bất thình lình đứng dậy. “Thú vật có khả năng linh cảm sự việc, mọi người biết đấy. Chính vì vậy mà chúng bỏ đi hết. Nếu có cái gì đó từ quá khứ thức giấc, thì nó cũng mang những ký ức của nó theo cùng: những trận đánh nhau, những đám cháy, những tang thương và cả những tiếng kêu thét kinh hoàng. Hèn gì mà bọn thú đã cao chạy xa bay.”

“Cháu thấy tất cả những thứ này chẳng có ích gì cả,” Benjamin van vỉ. “Ý cháu là, có lẽ cháu sẽ không bao giờ, ôi, chẳng bao giờ tìm lại được con chó của cháu nữa.”

Viễn cảnh ghê hồn về một thành phố không muông thú đột nhiên cùng lúc hiện ra trước tất cả mọi người.

“Cứ như chịu một lời nguyền vậy,” Emma nhận xét.

Ông cậu Paton không bi quan như thế. “Mọi người ảm đạm quá đấy,” ông bảo. “Ta chắc chắn tình trạng này chỉ tạm thời thôi. Chút xíu con chuột kia tỉnh dậy và sẽ nói cho mọi người biết bọn chim thú đi đâu.”

Nhưng Rembrandt không thức giấc. Nó nằm lì trong túi Billy suốt ngày, chỉ có nhịp tim yếu xìu là dấu hiệu sự sống duy nhất của nó.

Vào Chủ nhật, gió bấc thổi bạt những đám mây mưa tuyết vào thành phố, và chỉ những kẻ ngốc mới ló mặt ra đường.

Charlie và Billy chơi trò chơi điện tử trong khi Rembrandt, nằm vùi trong giường Billy, vọt ra một tiếng ngáy lơ mơ của chuột. Một cơn gió bạo liệt bất ngờ hất rơi một viên đá phiến xuống đường, và Charlie chạy bổ ra cửa sổ. Ở đó kìa, nấp bên dưới cây dẻ trơ trụi, nó lại trông thấy cái bóng người áo vàng ấy. Nó chắc chắn đó là người mà nó đã thoáng thấy lủi vào một con hẻm hôm trước. Nhưng lần này, mặc cho mưa tuyết, nó đã nhìn thấy cô bé rõ hơn. Nếu nó không lầm thì cô này người Trung Hoa. Mặc áo khoác màu vàng nắng, có mũ trùm đầu lùng phùng. Và mái tóc đen xõa ngang vai được vén gọn khỏi mặt cô bé bằng chiếc cặp tóc hình con bướm sáng loáng.

Khi trông thấy Charlie, cô bé mỉm cười và giơ bàn tay lên vẫy. Charlie vẫy lại. Vừa thấy thế, nụ cười của cô bé liền nở rộng thêm, rồi cô chạy biến đi mất.

“Chờ đã!” Charlie gọi.

“Anh đang nói chuyện với ai vậy?” Billy hỏi.

“Cô bé kia,” Charlie bay vù ra khỏi phòng. Nó lao xuống lầu và chạy vút qua hành lang. Giật phăng cửa trước, nó gào toáng ra ngoài đường. “Đợi đã! Bạn là ai?”

Nhưng cô bé mặc áo màu nắng vẫn chạy cho tới khi khuất khỏi tầm mắt nó.

“Cô bé nào vậy?” Billy hỏi khi Charlie quay trở vào.

“Chỉ là một đứa con gái. Hình như nó biết anh, nhưng mà nó chạy đi rồi.”

Rembrandt thình lình ré lên một tiếng và bật dậy.

“Coi, nó dậy rồi này.” Billy nhặt con chuột lên và bắt đầu nói bằng thứ tiếng chút chít lảnh lót lạ lùng của chuột.

Rembrandt lộ vẻ như đang lắng nghe. Khi Billy im tiếng, con chuột đáp lại bằng vài tiếng chít yếu ớt.

Billy xụ mặt. “Nó bảo nó chả nhớ gì cả.”

“Cái gì! Nó không nhớ nó đi tới nơi lánh nạn bằng cách nào à, hoặc một tí gì cũng không nhớ à?”

Billy lại nói với Rembrandt. Con vật vẫn cứ đáp lại bằng giọng xìu xìu của một con chuột hết hơi.

“Nó có nhớ ra nơi đó trong đầu, nhưng lại quên mất tiêu cách đến đó rồi.”

“Thế thì làm sao tụi mình tìm được những con thú khác?” Charlie cật vấn.

“Không biết. Nhưng dù có muốn Rembrandt cũng không thể nào tự đi lại quãng đường đó lần nữa.” Billy nhấc một chân con chuột lên. “Trông này, đệm chân nó bị đau và bị mất một cái móng.”

Charlie quan sát bàn chân nhỏ téo tẹo của con chuột. Rõ ràng mấy ngón chân nát thê thảm. Charlie ảo não thả mình xuống giường và nghĩ đến Benjamin, chờ ngóng bảy tháng ròng để gặp Hạt Đậu, chỉ thấy con chó mà mình yêu thương đã biến mất. Charlie cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm cho việc này. Giá mà nó chăm sóc Hạt Đậu tốt hơn thì hẳn chú ta đã không bỏ đi.

“Đó không phải là lỗi của anh đâu, Charlie,” Billy nhỏ nhẹ nói. “Để đây thì nội Bone chắc đã giết Hạt Đậu hoặc tống nó vào trại chó hoang rồi. Với lại, ở quán Cà Phê Thú Kiểng nó vui lắm mà.”

“Anh thắc mắc không biết bọn chim thú có trở lại không,” Charlie đăm chiêu, “hay là chúng sẽ đi luôn.”

Buổi tối, ngoại Maisie lên cho Rembrandt ăn. Bà bảo bọn nhóc để bà giữ con chuột trong phòng bà, an toàn khỏi nội Bone, rồi thứ Hai bà sẽ đem nó về lại chỗ ông Onimous.
Loading...

Đọc Tiếp Chương 05 phần 2

Tới Chương nhanh

Bạn Đang đọc Charlie Bone và nhà vua ẩn mình (Tập 5) Chương 05 phần 1